VI | EN
6. Một kiến nghị của người Việt thế kỷ XIX về cách khu xử với nhà buôn người Thanh (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

MỘT KIẾN NGHỊ CỦA NGƯỜI VIỆT THẾ KỶ XIX VỀ CÁCH KHU XỬ VỚI NHÀ BUÔN NGƯỜI THANH

VIỆT ANH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Ích quốc lợi dân là tâm nguyện hàng đầu của người dân không phân biệt cương giới, thành phần, tuổi tác…, trong đó có kẻ sĩ. Ích quốc lợi dân cũng là tên bản kiến nghị của một sĩ nhân như thế.

Văn bản này hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2388, gồm 54 trang viết tay trên giấy dó. Theo văn bản này, tác giả của kiến nghị là sĩ nhân Nguyễn Xuân Sơn , người làng Ái Mộ(1), xã Lâm Hạ, tổng Gia Thụy, huyện Gia Lâm, phân phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Xét theo địa danh, có thể đoán định vị sĩ nhân này sống và viết kiến nghị vào khoảng từ năm 1831 (đời vua Minh Mạng trở về sau).

Ích quốc lợi dân kiến nghị về mười vấn đề trong nhiều lĩnh vực của xã hội đương thời: Tinh xảo trừ tài (Đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng cao), Khu xử Thanh thương (Xử lý nhà buôn người Thanh), Phá đê toàn lợi (Phân tích lợi hại của đê điều), Thính dân trù tiền (Cho phép dân đúc tiền), Hoang điền cấp khẩn (Cho quyền khai khẩn và sở hữu ruộng hoang), Thương viện bình giá (Đặt cơ quan bình ổn giá cả), Phục xứng kỳ đức (Trang phục phù hợp với tư cách), Phu phụ dĩ chính (Giữ đàng hoàng trong quan hệ vợ chồng), Hôn nhân cập thời (Tính đúng thời của việc hôn nhân), Tửu yên nghi cấm (Cấm rượu lậu và thuốc phiện). Trong điều thứ hai của kiến nghị có đoạn viết: Kính thấy, nước ta từ niên hiệu Tự Đức thứ 26 (1883) về trước, hằng năm đều có đúc tiền công, hoặc giữ trong kho, hoặc ban khắp thiên hạ…(2). Điều này cho thấy, sĩ nhân Nguyễn Xuân Sơn viết bản kiến nghị này sau năm 1883.

Trong thông báo lần này, xin được giới thiệu điều thứ hai trong kiến nghị, về việc khu xử với người buôn bán nước ngoài.

(3):

, . 使, .

, , , . . , . . .

, , , . . , , , , 便, , , .

, . , , , . , , .便 . . . , , , , , , . 便, 便, . 便, . , . , , , . , , , .

, . , , , , , , . , , , , , .

. . . .

 

Dịch nghĩa:

Chương thứ hai: Khu xử với nhà buôn người Thanh

Ở đất của vua, ăn gạo của vua, làm dân của vua, ấy là lẽ thường ngàn xưa không đổi. Nhà buôn người Thanh ở đất [vua ta], ăn gạo [vua ta] mà không làm dân chịu việc thì dung họ sao được.

Thường xem quốc sử, thấy nhà Trần nhà Lê về trước, hoặc có khi cấm tuyệt [người ngoài] không được nhập cảnh trong nước, hoặc cho thông thương nhưng không được ở lẫn với dân trong nước, có khi chỉ cho phép cư trú tại các bến Vân Đồn, Vạn Ninh. Đời trước làm vậy cũng vì sợ rằng [nhà buôn] bọn họ mang tới đồ quý lạ đẹp mắt vô thưởng vô phạt mà đổi lấy hàng hóa quý báu đáng đồng tiền bát gạo hữu dụng của ta, không chỉ [tạo điều kiện cho họ] am hiểu hình thế nước ta mà còn tường tận thực hư nước ta. Cho nên có việc nghiêm cấm này vậy.

Kính trông từ sau khi Thế Tổ Cao Hoàng đế ta yên định thiên hạ, Thánh Tổ các đời nối nhau, điều khoản khu xử với nhà buôn người Thanh đều lập thành quy pháp. Tuy cho phép nhập cảnh thông thương nhưng cũng không được tụ tập nhiều trong nước. Đến ngày việc cấm đường biển dỡ bỏ, lại thêm hỏa thuyền vun vút, dễ dàng lại qua, vậy nên họ dắt cả họ hàng, tụ cư thành một miền riêng trong nước, phàm các nơi tiện lợi đều tự tranh chiếm để mưu lợi nhiều, thậm chí đông đến hơn bốn vạn người. Như vậy mà không sớm tính phương sách khu xử dự phòng, là chưa hay đó.

Nay kẻ sĩ [mọn] xin rằng: trong các vùng Tuyên [Quang], Cao [Bằng], Thái [Nguyên], Lạng [Sơn] người thưa đất rộng, [hãy cho] mở ra hai mươi phố mới. Phàm đất cũ có nhà buôn người Thanh dựng nhà ở thì hỗ trợ giá để thu về, hết thảy đều thâu tóm họ tại [khu phố mới] này, cho dựng quán mở hàng. Họ đã được đưa về thâu tóm quản thúc ở đây, thì có sáu điều lợi.

Tại đầu phố lập đồn lớn, đóng binh mạnh, một là để tiện thu sưu thuế, một là phòng việc bất trắc, đó là lợi thứ nhất.

Nơi này tiếp giáp biên giới phía bắc, xe lửa đường bộ [đều sẵn], sớm đi chiều tới, tạp hóa dễ chuyển, là nơi khách đổ xô tới, thì sưu thuế ắt ngày càng thêm nhiều, đó là lợi thứ hai.

Phàm các địa điểm cũ tiện lợi đã hỗ trợ giá để thu hồi đất, thì càng nâng cao giá bán cho dân trong nước hoặc người Pháp để tiện làm ăn, đó là điều lợi thứ ba.

Dân trong nước đã được tiện lợi hơn thì đời sống sung túc mà sưu thuế tự nộp đầy đủ, đó là lợi thứ tư.

Dân đã đủ ăn đủ mặc thì đều giữ lòng lễ nghĩa liêm sỉ mà không ham thói trộm cắp, đó là lợi thứ năm.

Vả lại, xứ này rừng rậm cỏ dày, đất đai rất rộng, ngày nay đã mở ra hai mươi phố, cũng đáng là miền đất hứa, sau này dân cư buôn bán giao dịch sầm uất, ắt [phát triển] thành ba, bốn chục phố, cũng [sẽ] là một chốn đô hội [tựa] Long thành, đó là lợi thứ sáu.

Nếu không gom về quản thúc ở nơi này, thì có hai điều hại. Bởi nhà buôn bọn họ xảo trá, chỉ cốt có lợi, mà ngụ cư đến hơn bốn vạn người, vạn nhất khi lang sói nổi dã tâm, tụ tập thành bầy thì cũng làm phiền đến việc binh đao của ta, ấy là hại thứ nhất.

Họ đã ở lẫn trong nước [ta], nơi nào cũng có [mặt], thì phàm những động thái, tình hình của ta họ đều biết trước báo nhanh. Cơ mưu đã lộ, khởi sự không thành, ấy là hại thứ hai.

[Nhìn trước để] khu xử với nhà buôn người Thanh sẽ có sáu điều lợi mà tránh được hai điều hại. Không [sớm liệu] khu xử với nhà buôn người Thanh sẽ mắc hai điều hại mà mất sáu điều lợi. Lợi hại khác nhau, xin xét kỹ để làm.

Chú thích:

(1) Thôn Ái Mộ nay thuộc phường Bồ Bề, quận Long Biên, Hà Nội.

(2) A.2388, tờ 13b-14ab.

(3) A.2388, tờ 9a-11b./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.493-497)

Việt Anh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm