MỘT TẤM BIA QUÍ NÊU VIỆC MỘT SỨ THẦN VIỆT NAM ĐI SỨ TRUNG QUỐC KHÔNG MAY QUA ĐỜI MỚI PHÁT HIỆN Ở XÃ PHÚC TĂNG, HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH HÀ BẮC
NGUYỄN TRỌNG CÁCH
Hà Nội
Tôi có may mắn được ông Nguyễn Minh Mẫn hiện là cán bộ thanh tra Nhà nước Việt Nam, cơ quan tại 218C Đội Cấn, Hà Nội, cho về thăm quê ông nhân ngày giỗ của cụ nội ông đó là cụ Cả Ứng. Mà theo gia phả của dòng họ Nguyễn này thì cụ Cả Ứng chính là một dũng tướng của ngài Đề Thám, thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế. Do vậy tôi may mắn được biết ngay tại trong ngôi nhà thờ của gia đình ông Mẫn đang giữ gìn một tấm bia khá quan trọng cho việc nghiên cứu về dòng họ Nguyễn Đức và cụ Cả Ứng. Với thói quen làm văn hóa nên tôi có mang theo dụng cụ in bia và được phép của gia đình và dòng họ Nguyễn tôi đã in dập được tấm bia.
Sau đây tôi xin phiên âm và dịch ra tiếng Việt tấm bia này.
Phiên âm Tùy vãng Bắc sứ tả ký
Quang tiến Thận lộc đại phu, Kim Hoa huyện, Huyện thừa, Phúc Thọ nam, Nguyễn Đức Thành, nãi tướng công chi thân đệ, Yên Dũng huyện, Phúc Tăng xã nhân dã. Do ấm chức quan viên tử. Ư Giáp Ngọ niên, hạnh phùng thân huynh phụng triều (@) chi khiển sứ. Nhiên hữu tình nguyện vi tùy nhân cự nhĩ. Thân huynh thị tiền tài như thổ giới, quan huynh đệ vi tâm phúc, huynh hữu đệ cung, mỗi gia tương thuận, huynh xa đệ mã, tùng bách nhất đoàn. Chí Ất Mùi niên, trọng đông tuần thượng, trực đáo Giang Nam tỉnh, Sơn Dương huyện, Hoài Âm dịch. Nãi anh linh chi địa, khởi kỳ huynh cấp vãng qui tây. Đệ duy lễ quyền hành ký tẫn, đệ sự huynh tiêu tịch bất vong, huynh hộ đệ thân cung khang kiện. Đãi Bính Thân niên, tế sự hồi hoàn, đệ thủy dụng thân phù huynh qui quốc, lộ đồ dao viễn, sóc mạc chi hàn, thủy hành tắc thuyền vô ba, lục hành tắc xa bất phúc, phi hoàng thiên lượng kỳ trung trinh, năng như thị hồ? Chí Đinh Dậu niên, tùy vãng Bắc sứ, tế sự hữu công, dĩ kinh chỉ chuẩn ưng nhậm Huyện thửa chức, Nam tước, khả vi Quang tiến Thận lộc đại phu. Ư Mậu Tuất niên mạnh hạ chi thủ, tư bình sinh trạch cập đương thời phát tài hóa, ân thùy vạn thế. Kim bản xã lão thiếu đẳng tôn vi Hậu thần, tuế thời kính tự phối hưởng vu tả…, tống hứa văn ngân tứ thập lạng, điền nhị thập đảm, lưu vi tế sự, sở hành các tiết, vô đắc vi việt, dụng thùy vĩnh cửu vân.
Kế: Nhất tiết hệ đệ niên bất nguyện sở tứ nhất bản xã ….(1) chi hậu, chí sở ca xướng dữ trưởng quan chi lệ tịnh kỳ bàn xã…(2) nguyện tức tiền, sử tiền, tam quan thưởng kỳ ca vũ nhi mại kỳ nhạc. Thả như phụng sự: Xuy nhất bản, mễ ngũ quan bát, kê nhất chích, tửu nhất tu, kim ngân nhất thiên, phù lưu túc dụng.
Nhất tiết: Hệ đệ niên..(3) kỳ bản xã, chư nhất khẩu đương cổ tiền nhất quan, xuy nhất bàn, mễ ngũ quan bát, tửu nhất tu, đương cổ tiền nhị mạch, kim ngân phù lưu tác dụng, kỳ như khí cụ đẳng vật, cập chủ, kê tịch dụng thanh khiết, chí nhược các tiết tả văn hành lễ như nghi, bất đắc việt.
Nhất hứa: Phúc tăng xã văn ngân tứ thập lạng, cao điền nhị thập diềm…(4). Toàn xã quan điền viên hương lão thượng hạ đẳng cộng ký.
Hoàng triều Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi thập tứ, tuế tai mạnh hạ tiết cốc nhật.
Dịch nghĩa:
Bài ký tả việc đoàn sứ giả sang phương Bắc
Ông Quang tiến Thận lộc đại phu chức Huyện thừa, huyện Kim Hoa, tước Phúc Thọ nam là Nguyễn Đức Thành, em ruột ông là người xã Phúc Tăng, huyện Yên Dũng, nhờ phúc ấm mà được giư chức quan viên tử. Vào năm Giáp Ngọ may mắn gặp việc ông anh vâng lệnh triều đình được sai đi sứ, bèn có tấm lòng tình nguyện xin theo làm tùy nhân, giúp đỡ. Ông xem tiền tài như cỏ rác, coi tình nghĩa anh em như gan ruột. Bấy giờ ông coi em như bạn bè, em thì cung kính với anh. Cũng giống như những ngày ở nhà, anh em luôn sống hòa thuận bên nhau, anh đi xe thì em đi ngựa. Đoàn đi sứ thì như tùng bách một đoàn.
Đến thượng tuần tháng 10 năm Ất Mùi tới dịch quán Hoài Âm, huyện Sơn Dương, tỉnh Giang Nam, ấy là nơi đất linh thiêng, cho nên chẳng may người anh vội vã qui tiên, người em vận dụng quyền hành theo nghi lễ gửi quàn và thờ anh sớm tối không quên, nên được anh phù hộ cho mạnh khỏe. Mãi đến năm Bính Thân mới lo được việc đưa về thì ông em đích thân lại hộ quàn anh về nước. Đường xá xa xôi diệu vợi, cái rét phương bắc căm căm, lúc thì đi đường bộ thì xe cộ chắc chắn không bị trục trặc, đi đường thủy thì thuyền bè chẳng sóng gió làm tròng trành. Đó chẳng phải là trời thương xót cho lòng trung trinh của ông thì sao lại được như vậy! Lại đến năm Đinh Dậu thì được xét công trong việc hộ sứ, cho nên ông em nhận được chiếu chỉ cho phép nhận chức Huyện thừa, ban tước Nam, phong chức Quang tiến Thận lộc đại phu.
Vào năm Mậu Tuất đầu mùa hè nghĩ việc bình sinh ơn khắp đương thời, bèn phát của cải, ban ơn để lại muôn đời, nay bản xã già trẻ trong làng đều tôn làm Hậu thần, năm tháng kính cẩn tế lễ phối hưởng ở bên trái đình thờ Thần hoàng làng. Ông còn ban cho hai mươi quan tiền và ruộng hai mươi khoảnh để làm tế lễ trong các tiết cấm không được xâm phạm và vi vượt.
Vậy ghi lại để mãi về sau.
(Phần cuối bia nói về thẻ lệ cúng giỗ bị mờ, đành lược bỏ, không dịch).
Tiết ngày lành tháng 4 niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718).
Một vài nhận xét
1. Người được nói đến trong văn bia là quan Huyện thừa huyện Kim Hoa, tước Phú Thọ nam, được ban chức Quang tiến Thận lộc đại phu tên là Nguyễn Đức Thành chính là một vị thuộc thế hệ tổ tiên gia đình ông Nguyễn Minh Mẫn. Điều này, nêu ra tôi không nhằm đề cao cá nhân và gia đình dòng họ ông Mẫn mà muốn nhắc đến một sự kiện nhân luân tốt đẹp về quan hệ giữa ông quan đại phu với ông em ruột đó chính là sự kiện ghi lại một hiện tượng đặc biệt là: Người nước ta đi sứ trong thời đại khoảng trước triều vua Vĩnh Thịnh có thể được phép xin cho người em trai mình đi “TÙY VÃNG” mà cho đến nay chưa thấy có một tài liệu nào như văn bia này nhắc đến. Tôi không phải là người đi sâu vào việc làm lịch sử đi sứ và bang giao trong các triều đại phong kiến nước ta, nhưng cũng mạnh dạn nêu lên để các nhà nghiên cứu cùng xem xét.
2. Sự kiện thứ hai mà văn bia này đề cập lại nói về hiện tượng chẳng may của người phụng mệnh đi sứ, một nhiệm vụ quan trọng của vua trao là ông Nguyễn Đức Thành, vừa đặt chân đến dịch sở Hoài Âm, huyện Sơn Dương, tỉnh Giang Nam Trung Quốc thì lại bị đột ngột qua đời. Câu chuyện chính lúc này đây hẳn là rất phức tạp, gay cấn và nan giải. Thế thì người em ông được phép đi lo liệu và giải quyết thế nào đây? Điều này nội dung văn bia tôi vừa dịch trên đây thì thấy rất rõ.
3. Cũng thật là thú vị: Quan hệ giữa người em được theo chân anh trong việc tùy sứ nơi thiên triều phương Bắc vừa phải chịu đựng, vừa phải khôn khéo vận dụng các “quyền lề” để xin “kí tẫn” cho thi thể của quan sứ thần mới thành việc “tế sự”. Hành trình “hộ quan” vất vả không chỉ trải qua một năm mà còn bao nhiêu thử thách, đường xá thủy bộ, thời tếit khắc nghiệt. Điều đó không chỉ nói lên tinh thần cư xử, ăn ở tốt đẹp giữa hai anh em của sứ thần và dòng họ Nguyễn Đức, mà còn cho thấy đây là sự khôn khéo khi phải đương đầu với những biến cố bất ngờ khôn lường, mà lại rất dễ xảy ra đối với các đoàn sứ bộ của người Việt ta khi sang sứ Trung Quốc.
Nhờ những nội dung chi tiết mà dã trình bày ở trên rút ra từ chỉ một mặt của nội dung văn bia cũng đã đủ cho ta thấy: Có thể rồi đây các vấn đề bang giao, đối ngoại, đặc biệt là những chi tiết phức tạp của việc đi sứ của cha ông ta thuở xưa vẫn còn đòi hỏi sự đầu tư, nghiên cứu, phát hiện thêm nhiều nữa. Có thể những điều tôi trình bày trên đây chưa hoàn toàn đúng cả, nên rất mong sự chỉ chính của các nhà nghiên cứu cổ sử và các chuyên gia Hán Nôm.
Chú thích:
1, 2. Nguyên bản mờ, không đọc được
3, 4. Nguyên bản mờ, không đọc được.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.40-45)