VI | EN
6. Ngôn ngữ Thăng Long - Kinh Bắc cuối thế kỷ 6. XVIII trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (TBHNH 2010)
(TBHNH 2010)

NGÔN NGỮ THĂNG LONG - KINH BẮC CUỐI THẾ KỶ XVIII TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

NGUYỄN KHẮC BẢO

Hội ngôn ngữ học Việt Nam

Truyện Kiều là kiệt tác văn học bậc nhất của văn chương Việt Nam, nhưng đến nay văn bản gốc có thủ bút của tác giả vẫn chưa sưu tầm được.

Do đặc điểm của chữ Nôm là chưa được điển chế một cách chính quy và chặt chẽ, nên khi phiên âm sang Quốc ngữ dễ sai khác nhau. Nhận xét về tình trạng này, học giả Hoàng Xuân Hãn đã từng nói:

“Cái thứ tư nữa là có bản Nôm mà không biết đọc bản Nôm, nhiều khi đọc sai mất nghĩa hoặc không có ý nghĩa gì... Rồi sau những người có Tây học, phiên âm để in thành sách,thì họ lại không biết đọc Nôm nữa...”(1).

I/ Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều vào thời gian nào?

Dựa vào bằng chứng nhiều bản Kiều Nôm cổ đã có in những chữ phạm huý vua Gia Long vì dám dùng chữ Chủng (tên vua hồi nhỏ) để ghi âm chữ Giống trong các câu Kiều 853 và 1728.

Và lại còn phạm huý chữ Lan (tên mẹ cả của vua Gia Long là Nguyễn Thị Lan) trong các câu: 1310 và 1988.

Ngoài ra lại có nhiều câu vi phạm điều 225 bộ luật Gia Long “Quy định những người phạm tội yêu thư, yêu ngôn đều bị xử chém” như các câu 2471 - 2472:(2)

Với những câu Kiều phạm huý như vậy, thì không thể chấp nhận giả thuyết ông quan Đông các điện học sỹ Nguyễn Du lại viết Truyện Kiều khi đã ra làm quan triều Gia Long như Từ điển văn học đã trình bày(3)

Trong Truyện Kiều lại có nhiều câu thơ phạm huý tên vua Lê như: Tường, Kỳ hoặc tên chúa Trịnh như: Tùng, Căn, Giang, Sâm, Tông, Bồng...

Việc trong Truyện Kiều có nhiều câu phạm huý âm đọc tên các vua Lê - chúa Trịnh đã chứng tỏ Truyện Kiều cũng không thể được Thi hào sáng tác vào thời vua Lê - chúa Trịnh như kết luận của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn và các cộng sự(4)

Đồng thời ta còn phải lưu tâm đến gia cảnh nhà Nguyễn Du lúc đó đang phải chịu nhiều tang lớn : anh hai Nguyễn Điều, anh cả Nguyễn Khản cùng mất năm 1786. Xuân Kỷ Dậu 1789, Quang Trung đại phá quân Thanh. Nguyễn Du định chạy theo Chiêu Thống nhưng không kịp phải về ẩn náu nhờ quê vợ Thái Bình. Năm 1791 anh trai là Nguyễn Quýnh do chống Tây Sơn nên bị giết. Năm 1796 Nguyễn Du còn toan trốn vào Gia Định phò Nguyễn Ánh nhưng bị bắt rồi được thả và quản thúc ở Tiên Điền. Thi hào ở ẩn và tự gọi mình là Hồng Sơn liệp hộ và Nam Hải điếu đồ - biệt danh này còn được ghi lại trong văn bản Đoạn trường tân thanh - bản in năm 1902.

Qua các tư liệu trên chúng tôi tin rằng thời gian thích hợp nhất để Nguyễn Du viết Truyện Kiều là khoảng (1796 - 1801) tức vào thời Tây Sơn.(2)

II/ Ngôn ngữ Thăng Long - Kinh Bắc là chủ đạo trong Truyện Kiều

Đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) là con trai thứ 7 của Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm (1708 - 1776) quê ở Tiên Điền - Nghi Xuân - Hà Tĩnh. Mẹ của thi hào là bà ba Trần Thị Tần (1740 - 1778) quê ở Hoa Thiều - Hương Mạc - Từ Sơn - Kinh Bắc sinh ra Thi hào tại phường Bích Câu - Thăng Long. Ra Thăng Long làm quan, Tể tướng Nguyễn Nghiễm còn lấy thêm bà tư, bà năm ở Kinh Bắc, bà sáu ở Sơn Nam. Trong khu dinh thự của quan Tể tướng ở Thăng Long ngoài con dâu là vợ Nguyễn Du quê Thái Bình còn có 6 nàng dâu ở đồng bằng sông Hồng. Ngoài ra còn 6 chàng rể cũng quê ở châu thổ sông Hồng.(5)

Như vậy là trong dinh thự quan Tể tướng Nguyễn Nghiễm ở Thăng Long có tới 4 bà phu nhân, 7 nàng dâu, 6 chàng rể là người vùng châu thổ sông Hồng và còn biết bao bạn học của Thi hào, gia nô, đầy tớ, a hoàn cũng là người tứ trấn. Môi trường sinh hoạt ấy tạo thành kho tàng ngôn ngữ tinh tuý để Thi hào sử dụng khi sáng tác Truyện Kiều.

Khi cho Thúc Sinh nói: “Lòng đây lòng đấy chưa từng hay sao” (câu 1362) thì rõ ràng là Thi hào đã ảnh hưởng của lời ca quan họ “Đấy với đây không dây mà buộc” và câu thơ trên tranh Đông Hồ “Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi”.

III/ Phiên âm lại mấy chữ Nôm trong Truyện Kiều cho phù hợp với ngôn từ thế kỷ XVIII và ngôn ngữ vùng Thăng Long - Kinh Bắc

1/ Câu 2362: “Càng cay (nghiệt) lắm càng oan trái nhiều”

Từ “cay nghiệt” là do Kiều Oánh Mậu khắc in năm 1902, về sau được hầu hết các bản quốc ngữ chép theo. Chúng tôi xin phiên âm lại là: Càng cay ngạt lắm, càng oan trái nhiều.

Trong Đại Nam Quấc âm tự vị, học giả Huình Tịnh Paulus Của giảng: “Cay ngạt: thường nói về lời gay gắt, cái cay và cái ngạt là cốt cái dao, cái kéo. Lời nói có cay có ngạt thì là gay gắt quá. Cay ngạt: sâu thiểm, gay gắt” (tr.91 tập 1 và tr.87 tập 2).

2/ Câu 2297: “Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng”

Chữ thứ ba của câu này các bản Nôm đều in chữ Hán là: “Soạn” nên phiên thành “Tuyển” là nhầm, chúng tôi phiên lại là “Chọn”. Nhưng chữ thứ nhất nếu phiên là “Nghiêm” sẽ là tính từ, không đối chuẩn với “ Chọn” hoặc “Tuyển” đều là động từ.

Chúng tôi phiên lại là: “Nghiềm quân chọn tướng sẵn sàng”.

Cũng Huình Tịnh Paulus Của giảng: “Nghiềm: sắm sẵn, để sẵn để chực hờ. Ví dụ: Nghiềm dao: để dao mà chực hờ; nghiềm binh: dàn binh cho ra sẵn, để binh hờ” (tr.93 tập 2). Như vậy hai từ “Nghiềm” và “Chọn” cùng là Nôm, lại cùng là động từ, đối với nhau rất chuẩn.

3/ Câu 2896: Dây duyên sau lại (gả) về Thúc Lang

Các bản quốc ngữ đầu tiên của Trương Vĩnh Ký, A.D. Michels và Nodemann đều phiên là “Gả”. Việc Thúy Kiều theo Thúc Lang mà dùng từ “gả” là sai với ngôn ngữ đại chúng, vì chỉ có cha mẹ đẻ mới “gả chồng” cho con gái, chứ mụ Tú bà làm sao có tư cách “gả” Thuý Kiều cho Thúc Sinh. Chúng tôi thấy chữ thứ năm này là chữ Hán: Giá còn có thể phiên là “Gá” với nghĩa: “Gá: gác nhờ, để đỡ, để nhờ trên cái gì” (Huình Tịnh Paulus Của - tr.339)

Gá: Gác qua cho dính, cho đụng nhau” (Lê Văn Đức - Tự điển Việt Nam - nhà sách Khai Trí Sài Gòn in năm 1970, tr.514) đều rất hợp nghĩa. Nên chúng tôi phiên lại là: Dây duyên sau lại về Thúc Lang.

IV/ Thay lời kết

Chúng tôi tiếp bước các bậc tiền bối làm công việc phát hiện và phục nguyên các chữ “khác nhau một dấu hoặc khi có lầm” như trên là quá sức với một người ngoại đạo. Song rất may mắn là việc làm đơn lẻ tự phát của chúng tôi lại được báo chí và một số nhà xuất bản quan tâm cho ấn hành thành các cuốn sách khảo cứu về Truyện Kiều. Những phát hiện mới về cách phiên âm ba câu Kiều kể trên rất may mắn là đã được các Giáo sư Trần Nho Thìn sử dụng lại vào bản Truyện Kiều in năm 2007 và Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cũng phiên âm đúng như thế trong bản Truyện Kiều in năm 2008 (Trong hai bản in năm 2002 và 2004 giáo sư chưa phiên như thế).

Sự trùng hợp khá hy hữu này đã động viên khích lệ tôi tiếp tục tự tin trong nghiên cứu. Chỉ mong rằng trong việc nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn cũng cần phải công minh, rành mạch, rõ ràng, như các phát minh trong khoa học tự nhiên và việc công nhận bản quyền cho từng câu chữ cần được quan tâm thích đáng hơn nữa.

Chú thích:

1. Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về Truyện Kiều, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 3 - 1987.

2. Nguyễn Khắc Bảo: Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều khi nào? Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống số 6-2000 và trong các bản Truyện Kiều do Nxb. Nghệ An, 2004, Nxb. Văn hóa Dân tộc, 2004, Nxb. Giáo dục, 2009.

3. Từ điển Văn học; tập II, Nxb. KHXH, H. 1984, tr.455.

4. Từ điển Văn học - bộ mới; Nxb Thế giới, H. 2004, tr.1123.

5. Nguyễn Tài Cẩn (và các cộng sự) các bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 3 - 2005, Kiến thức ngày nay số 529 - 4/2005; Tạp chí Hán Nôm số 3/2005; Báo Lao Động ngày 03-04-2005; Tạp chí Ngôn ngữ số 7 - 2005 và các công trình Tư liệu Truyện Kiều in 2002, 2004, 2008.

6. Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả./

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.36-40)

Nguyễn Khắc Bảo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm