VI | EN
6. Tài liệu Hán Nôm ở đình, chùa làng Thượng Cát và một số vấn đề về lịch sử... (TBHNH 2003)
TBHNH2003

TÀI LIỆU HÁN NÔM Ở ĐÌNH, CHÙA LÀNG THƯỢNG CÁT VÀ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA, XÃ HỘI

ĐINH BÙI

Hội VNDG Việt Nam

ĐÀO KIM THU

Bảo tàng Phụ nữ

Làng Thượng Cát, huyện Từ Liêm (Hà Nội), hiện còn cụm di tích Đình - Chùa - Đền - đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa. Tại 3 di tích này còn lưu được một số di văn Hán Nôm có giá trị, phản ánh nhiều nét về lịch sử văn hoá và xã hội của làng. Đó là bia và chuông, khánh ở chùa Kỳ Vũ, bia ở đình và bia ở đền Tam Thánh.

1. Giới thiệu sơ bộ nội dung các di văn

1. 1. Chuông Thịnh Đức chùa Kỳ Vũ

Đây là quả chuông lớn, thân chuông cao 97 cm (ngang dưới 45cm), quai cao 35cm, ngang 45cm, đường kính miệng 70cm. Chuông có 6 núm viền ô chấm. Chuông có tiêu đề Thượng Cát xã Công Bộ sãi vãi tạo chú hồng chung (Sãi vãi làng Thượng Cát và phường Công Bộ đúc chuông lớn), được hoàn thành vào ngày lành, tiết nhất dương năm Thịnh Đức thứ 3 (1655). Người soạn bài văn chuông là Thủ bạ Thừa ty xứ Sơn Tây Lê Tiến Lộc, tước Văn Nham bá. Người khắc chữ là Chỉ huy Thiêm sự, tước Thọ Xuân nam Trần Phác Tự. Chữ khắc chân phương, còn sắc nét, dễ đọc.

Bài Minh khẳng định, làng Thượng Cát thuộc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây có cổ tích là Kỳ Vũ tự hay chùa Cổ Giác, hoặc chùa Giác. Làng ở một địa thế đẹp. Nay có vị sãi ở phường Công Bộ huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên trú quán tại giáp Kim Bát Thượng phường Báo Thiên huyện Thọ Xương là Phạm Công Doanh chức Chỉ huy sứ ty Xá ty, tước Văn Nhậm bá, lúc đầu thụ Phật đạo có tên tự là Chân Phúc Tiến, pháp hiệu Đạo Thông, vợ là Nguyễn Thị Khuông hiệu Chân Từ Quý, cùng các sãi vãi trong xã tín thí công đức. Đến giờ tốt lành tháng Đinh Hợi năm ất Mùi (1655) hưng công tạo đúc chuông lớn 1 quả, hương sen 2 tòa. Đúc xong chuông như trở thành một trong tứ khí lớn ở di tích này. Tiếp đó là bài Minh 28 câu, ca ngợi lòng tâm đức, làm điều thiện của người đứng ra đúc chuông.

Các mặt và ô của chuông ghi tên, địa chỉ của những người đóng góp vào việc đúc chuông cùng số tiền cụ thể.

1. 2. Bia Vĩnh Thọ chùa Kỳ Vũ

Bia đặt tại mé hiên bên phải theo hướng chùa, cao 105 cm, rộng 75 cm, đặt trên một con rùa lớn. Trán bia chạm rồng chầu mặt nguyệt. Bia có 2 mặt chữ, khoảng 800 chữ chân phương, còn rõ nét. Mặt trước của bia có tiêu đề Kỳ Vũ tự Hậu Phật bi đề danh ký (Bia ghi về việc đặt Hậu Phật chùa Kỳ Vũ). Bia được lập ngày 24 tháng 9 năm Vĩnh Thọ thứ 2 (1659), Pháp sư người huyện Tiên Du viết chữ. Nội dung nói về việc quan viên hương lão, sãi vãi xã Thượng Cát cùng bản chùa dựng bia ghi tên các vị Hậu Phật; là Quận chúa Lê (Trịnh) Thị Ngọc Nhân, hiệu Diệu Trạm, người xã Tam Lã, huyện Lôi Dương phủ Thiệu Thiên (xứ Thanh Hoa); Đình úy sứ, Văn Thắng tử Ngô Vĩnh Đăng, tự Phúc Sinh người xã Bằng Liệt huyện Thanh Trì và vợ là Lưu Thị Lý hiệu Diệu Minh, cùng góp ruộng hương hỏa là 3 mẫu, ruộng tăng 3 sào.

Mặt sau có tiêu đề Hậu Phật bi nội dung giống như ở mặt trước nhưng tên người đặt Hậu Phật là bà Lưu Thị (mặt trước là Quận chúa họ Lê đổi thành họ Trịnh), chưa rõ vì sao lại có khác biệt đó. Sau bài thơ như ở mặt trước, bia ghi tên ông Tri phủ Nguyễn Văn Lý (người xã Bằng Liệt) và vợ là Ngô Thị Trại công đức 6 quan sử tiền.

1. 3. Khánh chàu Kỳ Vũ

Khánh có tiêu đề “Thượng Cát xã Kỳ Vũ tự khánh”. Khánh gồm 2 khoang chữ. Khoang bên phải có 19 hàng, mỗi hàng trung bình 17 chữ. Khoang bên trái có 2 cột, một cột bên phải có 6 hàng có từ 5 - 28 chữ; cột bên phải có 10 hàng từ 6 - 22 chữ. Chữ đều chân phương rõ nét. Khánh được đúc ngày lành tháng Mạnh Hạ (tháng 4) năm Nhâm Ngọ đời Vua Minh Mệnh (1822). Người nhuận sắc là Từ Cát cư sĩ (cư sĩ làng Thượng Cát, huyện Từ Liêm), thợ đúc là Nguyễn Đình Xuyến. Nội dung nói về chùa Kỳ Vũ làng Thượng Cát là “Tây thiên thắng tích, Nam quốc danh lam”, có tiềm long dẫn mạch, mỗi lần cầu mưa đều hiển ứng. Nay các thiện tín công đức đúc khánh đồng. Tiếp đó ghi tên các cá nhân, tổ chức góp tiền đúc khánh.

1. 4. Bia đình Thượng Cát

Đây là tấm bia trụ, cao 85 cm, rộng 40 cm, có tiêu đề theo 4 mặt là Hậu Thần bi ký, Quốc thái dân an, đế đạo hà vương, Hoàng đồ củng cố. Bia được lập ngày 22 tháng 3 năm Chính Hòa 11 (1690). Thị nội thư Tả Binh phiên, Phương Lĩnh nam Lưu Quan Lãng thừa chép. Bia có khoảng 600 chữ, khắc chân phương nhưng nhiều chữ bị mờ. Nội dung nói về việc ngày lành, tháng trọng đông (tháng 11) năm Chính Hòa thứ 10 (1689), quan viên hương lão xã Thượng Cát họp ở đình để bầu Hậu Thần cho ông Giang Triều Hải người xã An Định hương Tấn Thành huyện Kiến Xương phủ Nam Khang (Trung Quốc), trú quán tại phường Diên Hưng huyện Thọ Xương phủ Phụng Thiên thuộc Trung đô nước Đại Việt, vợ là Lê Thị Khoa. Không rõ số tiền và ruộng khi đặt hậu ra sao vì nhiều đoạn bia bị mờ không thể đọc được.

1. 5. Bia đền Tam Thánh

Làng Thượng Cát có đền Tam Thánh, tọa lạc trên một khu đất ở giáp cánh đồng thuộc xóm 3. Theo các bô lão địa phương, đền có từ lâu, lúc đầu là một thảo am nhỏ. Tại đây còn tấm bia “Tam Thánh từ bi” (bia đền Tam Thánh). Bia 1 mặt, dựng sát tường phía trước đền, cao 80 cm, rộng 45 cm, có khoảng 400 chữ khắc chân phương, một số chữ bị mờ. Bia được lập ngày lành tháng giêng năm Thành Thái thứ 4 (1892). Nội dung bài văn bia lập ngày thiện tín Nguyễn Văn Yến, Đàm Văn Cương, Ngô Văn Vinh… (tổng cộng 41 người) cúng 3 mảnh ruộng, diện tích là 3 sào 04 thước (1 thửa 14 thước, 1 thửa 1 sào, 1 thửa 1 sào 5 th) tại xứ Đồng Khải cùng tiền cúng vào đền. Trong đền còn quả chuông đồng có niên hiệu Thành Thái nhà Nguyễn (1889 – 1907).

2. Các giá trị về lịch sử - văn hóa của các di văn Hán Nôm ở đình, chùa, đền làng Thượng Cát

2. 1. Về vị thế làng Thượng Cát

Văn bia, chuông ở đình và chùa đều khẳng định, làng Thượng Cát ở một vị thế đẹp, trên một đầu mối giao thông thuỷ bộ quan trọng nên là đất địa linh nhân kiệt. Bài Minh trên quả chuông cho biết: phía Nam của làng có sông nước, núi chầu, đất sinh tướng tài , nhà khoa bảng; phía Bắc có dải sông uốn lượn, bến chợ ngựa xe tấp nập. Phía Đông là lị sở của hai ty quan (1), bên ngoài tụ tập các quan chức, phía Tây cao vọt lên ngọn núi Tam Đảo chầu về, phía trước có lâu đài xán lạn, cơ hồ thu thập một bầu thế giới. Nơi đây linh thiên, khiến mọi người thảy đều tôn kính phụng thờ.

Với vị thế mở, từng có thời kỳ (nhiều khả năng là thời Mạc) được đặt làm lỵ sở của Ty Thừa và Ty Hiến của xứ Sơn Tây nên Thượng Cát là nơi sinh sống, làm việc và giao lưu của nhiều quan lại, thân vương, quận chúa, thậm cái là cả thương nhân nước ngoài, do vậy chùa, đình của là không chỉ được dân làng trong vùng mà còn được số đông người thuộc các tầng lớp trên đây biết đến và đóng góp xây dựng. Xin nêu một số trường hợp điển hình:

Đóng góp vào chùa có các vị:

- Phạm Công Doanh người ở phường Công Bộ, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Tiên, giữ chức Đô chỉ huy sứ ty góp tiền của đúc quả chuông đồng lớn và hai lư hương làm đồ thờ tự cho chùa (năm Thịnh Đức 3 - 1655).

- Binh bộ Thượng thư Quảng Quận công Đặng Thế Khoa tự Chân Hương, Sơn Tây đửng xứ Tán trị thừa chánh sứ ty Tham nghị Văn Thắng bá Nguyễn Trình, Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Trân hiệu Diệu Quang xã Thịnh Phúc cùng nhiều Quận chúa khác (ghi rõ họ tên, đạo hiệu, quê quán cụ thể) cùng góp tiền đúc chuông Thịnh Đức (1655).

- Quận chúa Lê Thị Ngọc Nhân, cùng mẹ là Lưu Thị Thảo đã bỏ tiền của ra xây dựng đền, chùa, được dân làng bầu Hậu Phật (năm Vĩnh Thọ 2 - 1659).

- Những người Khách (ngườu Hoa, Ngái) ở Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) góp 80 quan đúc khánh (năm Minh Mạng 3 - 1822).

Ngoài ra, còn nhiều người thuộc đủ tầng lớp xã hội ở các địa phương công đức, trong đó khá đông người thuộc phường Công Bộ (tức phường Thành Công quận Ba Đình hiện nay) và các phường Ngư Thị, Tam Thị huyện Thọ Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm).

Đóng góp vào đình: có ông Giang Triều Hải, người xã An Định, hương Tân Thành huyện Kiến Xương phủ Nam Khang (Trung Quốc), trú quán tại phường Diên Hưng huyện Thọ Xương phủ Phụng Thiên thuộc Trung đô nước Đại Việt, phụng thờ ở ban bên tả, cùng vợ là bà Lê Thị Khoa (năm Chính Hòa thứ 10 (1689). Hiện tượng người Trung Hoa đặt Hậu và được chấp nhận là Hậu Thần ở một đình làng của người Việt là hiện tượng ít gặp.

2. 2. Vấn đề tín ngưỡng

Theo mô hình chung về các công trình văn hoá - tín ngưỡng của một làng Việt ở châu thổ Bắc Bộ, làng Thượng Cát có đình để đình thành hoàng là 3 vị tướng giỏi của Hai Bà Trưng là Quách Lãng Công, Đinh Bạch Nương, Đinh Tĩnh Nương. Bản thần phả cùng 33 đạo sắc lưu giữ tại đình (mà chúng tôi không có điều kiện trình bày trong báo cáo này) chứng tỏ điều đó(2). Điều đặt biệt ở đình Thượng Cát là người được bầy làm Hậu Thần là một người Hoa.

Về chùa: ngoài chức năng thờ Phật, chùa Kỳ Vũ còn là nơi cầu mưa. Bản thân tên chùa cũng đã nói lên điều đó. Tại nhà Tiền tế của chùa hiện còn bức hoành phi có hàng chữ “Kỳ Vũ tự cầu vũ đắc vũ” (chùa Kỳ Vũ cầu mưa được mưa), tạo năm Duy Tân thứ 3 (1909), bài Minh trên khánh Minh Mạng 3 (1822) có đoạn “Chùa Kỳ Vũ là Tây thiên thắng tích, Nam quốc danh lam, có tiềm long dẫn mạch, mỗi lần cầu mưa đều hiển ứng” chứng tỏ đây từng là điểm cầu “mưa thuận gió hoà” của các quan và dân địa phương. Chùa Kỳ Vũ là một trong những ngôi chùa điển hình cho sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ nước, cầu mưa - yếu tố đặt biệt quan trọng của mọi cư dân, nhất là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Bia và chuông cùng hệ thống ở đền Tam Thánh phản ánh hiện tượng “Tam giáo đồng tôn” (Nho - Phật - Đạo cùng tồn tại). Điều này càng có ý nghĩa khi Thượng Cát là một làng có 4 tiến sĩ Nho học, 10 hương cống, cử nhân. Từ đền Tam Thánh, cuối thế kỷ XIX hình thành Hội Tam thánh (hay hội Thiện). Tham gia vào hội không chỉ là những người bình dân mà cả một số người thuộc tầng lớp trên, người có học trong làng. Mục đích, tôn chỉ của Hội là giúp đỡ những người nghèo, người gặp hoạn nạn trong làng, về sau, vào đầu thế kỷ XX, hội là tổ chức tuyên truyền yêu nước chống Pháp.

Ngoài ra, việc gửi giỗ ở chùa cũng là hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo đáng lưu ý qua văn bia, chuông khánh. Chỉ riêng Tín vãi phường Công Bộ Trịnh Thị Đa cùng thân nam Phạm Công Doanh (đã nêu) đã gửi giỗ cho rất nhiều người.

2. 3. Một số vấn đề khác qua tư liệu văn bia, chuông khánh

2. 3. 1. Từ “thôn” trên văn bản và cấp thôn trong thực tế

Trên chuông, bia ở chùa Kỳ Vũ có ghi “Thượng Cát xã, Thị thôn”. Theo nghĩa thông thường, “thôn” là cách gọi theo Hán Việt của làng, trong trường hợp làng đó đó được ghép với 1-2 làng khác thành một xã. Tuy nhiên, trên thực tế. “thôn” ở đây chỉ là một xóm (xóm Chợ)(1). Thời phong kiến, Thượng Cát luôn là xã có 2 thôn (làng) Thượng Cát và Đống Ba. Sở dĩ văn bản không dùng chữ “hạng” mà dùng chữ “thôn” là do vấn đề tâm lý, muốn được nâng “xóm” thành “thôn” cho trang trọng. Chúng tôi đã gặp hiện tượng này ở nhiều văn bia, chuông khánh có niên hiệu Thịnh Đức (1653 - 1657), Chính Hòa (1680 - 1705), Vĩnh Thịnh (1705 - 1719) ở nhiều làng quanh Hà Nội. Cần nhận thức rõ vấn đề này để tránh những nhận định sai về cơ cấu tổ chức và quy mô cấp xã thời phong kiến.

2. 3. 2. Về vấn đề phân chia hai xã Thượng Cát - Hạ Cát

Làng Thượng Cát đã di vào chính sử với sự kiện Lý Phật Tử và Triệu Việt Vương sau một thời gian giao tranh không phân thắng bại, vào năm Đinh Sửu (557) đã phân chia phạm vi ảnh hưởng, lấy “Quân Thần châu” tức hai làng Thượng Cát và Hạ Cát ở huyện Từ Liêm làm ranh giới nên còn gọi là Thượng Cát Giới và Hạ Cát Giới.

Lâu nay, có ý kiến cho rằng, cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, xã Thượng Cát gồm 3 thôn: Thượng Cát, Hạ Cát và Đống Ba thuộc tổng Hạ Trì. Sau lần vỡ để cuối thế kỷ XIX, thôn Hạ Cát tách thành một xã độc lập và đổi tên là Đại Cát, còn xã Thượng Cát vẫn tồn tại đến sau Cách mạng Tháng Tám. Tuy nhiên, sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX vẫn ghi tên xã “Đại Cát” là một trong 6 xã của tổng Hạ Trì. Điều đó chứng tỏ việc tách xã đã diễn ra ít nhất từ cuối thời Lê đầu thời Nguyễn. Chuông Thịnh Đức của chùa có dòng chữ “Quan viên hương lão thượng hạ đẳng Hạ Cát Giới xã” chứng tỏ ít ra vào thời điểm này, Hạ Cát đã trở thành một xã.

Chú thích:

1. Tức Ty Thừa và Ty Hiến của trấn Sơn Tây.

2. Trong số này có 2 đạo có niên đại sớm là Vĩnh Tộ 6, 8 (1624, 1626). Ngoài ra còn có các đạo: Đức Long nguyên niên 1629), Đức Long 5 (1633), Dương Hòa 3 (1637), Dương Hoà 6 (1642)…

Làng Thượng Cát trước Cách mạng có 11 xóm là: Đình, Đông, Chợ, Cầu Nang, Cầu Vú, Cầu Vò, Cầu Đầm, Cầu Lâu, Điếm Lân, Điếm Nhất Cổng Điếm. Các xóm có thành tố “Cầu” ở đầu tên là do ở mỗi xóm có một “nhà cầu” làm nơi hội họp, cúng hậu và đặc biệt để những người có tang trong năm được lễ thần tại đây (do không được ra đình).

Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.49-56

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm