6. Thử tìm hiểu bố cục một văn bản chiếu triều Nguyễn (TBHNH 2009)
THỬ TÌM HIỂU BỐ CỤC
MỘT VĂN BẢN "CHIẾU" THỜI NGUYỄN
NGUYỄN THỊ ANH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chiếu là một loại văn bản hành chính mang tính chất quan phương xuất hiện từ khi triều đình phong kiến Trung Quốc được hình thành và ngay lập tức được lựa chọn sử dụng khi chế độ phong kiến Việt Nam được xác lập. Do ảnh hưởng của Trung Quốc cho nên các văn bản chiếu Việt Nam thường mang văn phong Trung Quốc, đặc biệt là thời kì hưng quốc Lý - Trần. Nếu so sánh Lâm Chung di chiếu của Lý Nhân Tông và bài chiếu trước khi mất để lại di chiếu tang lễ giản đơn của Hán Văn đế thời kì Tây Hán trong Hán thư (quyển 4) ta sẽ thấy rõ điều này. Tuy nhiên khi vào Việt Nam không phải các văn bản chiếu đã có sẵn ngay một bố cục chung mà dần dần thể loại này mới được ổn định cùng với sự phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam. Trải dài cùng với lịch sử cho đến thời Nguyễn, các văn bản chiếu mới đạt tới độ hoàn thiện.
Để tìm hiểu về bố cục một bài chiếu chúng tôi đi sâu nghiên cứu các văn bản chiếu thời Nguyễn thông qua bộ sử Đại Nam thực lục do các sử gia triều Nguyễn biên soạn. Bộ sử này được biên soạn từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đến năm Duy Tân thứ 3 (1909). Lần lượt in từ năm Thiệu Trị thứ 4 (1884) đến năm Duy Tân thứ 3 (1909) gồm 2 bản in, 1 chỉ dụ soạn sách, một biểu dâng sách, một bản chức danh, 1 phàm lệ.
Nội dung của chiếu thời Nguyễn gồm nhiều chủ đề như chiếu lên ngôi, chiếu truyền ngôi, chiếu ban ơn, chiếu khuyến học... tùy theo từng nội dung mà độ dài ngắn của từng bài khác nhau. Dựa vào nội dung, chúng ta có thể thấy bố cục của văn bản chiếu thường có 3 phần: thứ nhất là mở đầu, phần thứ 2 là nội dung, thứ ba là kết luận. Tùy theo từng bài cụ thể mà ba phần này có những sự thay đổi khác nhau. Chẳng hạn như bài chiếu mở khoa thi Hương và thi Hội của vua Minh Mệnh, gồm 186 chữ đề cập tới việc mở khoa thi Hương và thi Hội.
Mở đầu là từ 朕惟 trẫm duy, sau đó đề cập đến lí do của việc ban chiếu, ở đây là việc mở hai khoa thi trên. Đầu tiên nhà vua nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc dùng người, tìm kiếm nhân tài từ xưa đến nay, sau đó nêu lên những việc làm của vua Gia Long trong việc “khai khoa thủ sĩ”, định phép thi. Tiếp đó là phần nội dung chính: nhà vua đặc chuẩn cho mở ân khoa, năm Tân Tị thi Hương, năm Nhâm Ngọ thi Hội. Cuối cùng là lời kết luận, thể hiện mong muốn được thấy kẻ sĩ thi đua học hành, trau dồi tài năng không phụ lòng ý mong mỏi của nhà vua.
Tuy nhiên, không phải bài chiếu nào cũng có đầy đủ các phần trên. Có những bài có phần mở đầu, nội dung nhưng lại không có phần kết luận. Ta lấy ví dụ một bài chiếu giảm tô ruộng duới triều vua Gia Long. Bài chiếu này cũng được trích lược từ bộ sử Đại Nam thực lục do quốc sử triều Nguyễn biên soạn có 94 chữ, mở đầu đề cập đến lí do ban chiếu. 君德莫大於愛民,王政當光於薄賦.自古帝王臨御天下,常不以撫綏為急. 今暑雨不常禾穀未得十分豐收, 朕念及民依, 擇恩不究 - Quân đức mạc đại ư ái dân, vương chính đương quang vụ bạc phú. Tự cổ đế vương lâm ngự thiên hạ, vị thường bất dĩ phủ tuy vi cấp. Kim thử vũ bất thường hòa cốc vị đắc thập phân phong thu, trẫm niệm cập dân y, trạch ân bất cứu. (Đức của nhà vua không gì lớn hơn là yêu dân, nền chính sự sáng tỏ ở việc nhẹ thuế. Từ xưa các bậc đế vương khi cai trị thiên hạ, chưa từng không lấy việc vỗ về dân làm việc cấp bách. Năm nay mưa nắng bất thường, lúa ngô không được phần bội thu, trẫm nghĩ đến dân chúng, ân trạch không thể xét đến). Sau đó nhà vua ban hành lệnh cắt giảm tô thuế cho các tỉnh mà không có phần kết luận.
Nếu xét sâu hơn nữa về văn bản chiếu thời Nguyễn, chúng ta sẽ nhận thấy, số lượng các bài chiếu có nội dung bố cáo và ban ơn tương đối nhiều. Tuy vậy, trừ một số bài chiếu bố cáo chỉ đơn thuần thông báo một việc gì đó của nhà vua và hoàng tộc cho thần dân biết thì đa số các bài đều có kèm theo việc ban ân, vậy nếu xét trên một góc độ nào đó, những bài chiếu bố cáo ấy cũng có nội dung không khác gì các chiếu ban ơn. Từ ngữ trong các bài chiếu này được sử dụng hết sức linh hoạt với các điển tích, điển cố. Các điển cố này phần lớn lấy trong Kinh Thi, khi sử dụng thì trực tiếp liệt kê, viện dẫn cụ thể vào việc muốn nói, giải thích rõ ràng vừa tạo nên tính uyên áo, lại dễ hiểu, gần gũi với người dân. Và sử dụng phương pháp tá dụ mượn cổ nói kim nhằm đảm bảo tính bác học cho văn bản chiếu mang tính chất nhà nước quan phương, nhưng cũng đảm bảo tính phổ cập của nó, để mọi tầng lớp nhân dân đều có thể hiểu được.
Về hình thức: như trên đã nói, một bài chiếu thông thường được chia làm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận, trong đó phần mở đầu thường có: 朕惟(trẫm duy) “trẫm nghĩ” hay 朕聞 (trẫm văn)“trẫm từng nghe”. Cách mở đầu như vậy đã có từ rất lâu ở Trung Quốc và Việt Nam ảnh hưởng từ bài chiếu của Hán Văn đế, Lí Nhân Tông khi mở đầu cho bài Lâm chung di chiếu cũng bằng từ “trẫm văn” như vậy.
Tiếp đó là phần nội dung chính. Trong phần này, tùy theo mục đích của từng bài chiếu mà nó cũng có những nội dung khác nhau với độ dài ngắn khác nhau. Đối với các bài chiếu ban ơn hay bố cáo, đây cũng chính là phần mà các ân điều được ban ra.
Cuối cùng là phần kết luận. Trừ một số bài không có phần kết luận như chúng tôi phân tích ở trên thì hầu hết đều có phần kết luận, bởi đây là phần tóm tắt toàn bộ ý kiến hay đưa ra những suy nghĩ của nhà vua. Trong các chiếu bố cáo hay ban ơn, phần kết luận này đều được bắt đầu bằng hai chữ: “嗚呼(ô hô) “than ôi”. Đây là đặc điểm mà các văn bản chiếu Lý - Trần không có và rất ít xuất hiện trong chiếu thời Lê. Cuối cùng các văn bản chiếu thời Nguyễn đa số được kết thúc bẳng 咸使聞知(hàm sử văn tri) “để mọi người cùng biết”.
Như vậy trong một bài chiếu thời Nguyễn nhìn dưới góc độ nội dung hay hình thức chúng ta cũng có thể tìm thấy bố cục của bài chiếu.
Bố cục các văn bản chiếu thời Nguyễn thường có ba phần hoàn chỉnh cùng với văn phong biền văn, dùng theo thể tứ lục, tạo nên sự nhịp nhàng, cân đối hài hòa, làm cho văn bản chiếu thời Nguyễn mang tính chất hành chính mà vẫn đi vào lòng người. Các văn bản chiếu thời Nguyễn không tránh khỏi những ảnh hưởng của văn phong chiếu Trung Quốc, đặc biệt là văn phong thời kì Đường Tống, nhưng lại có những biến đổi để phù hợp với Việt Nam và khẳng định một nền văn hóa độc lập.
(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.95-98)