VI | EN
6. Truyện nàng Túy Tiêu - bản dịch Nôm của Nguyễn Thế Nghi (TBHNH 1996)
TBHNH1996

TRUYỆN NÀNG TÚY TIÊU - BẢN DỊCH NÔM CỦA NGUYỄN THẾ NGHI

Hoàng Hồng Cẩm

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, nguyên văn chữ Hán của Nguyễn Dữ, được Nguyễn Thế Nghi “Tăng bổ giải âm tập chú” là tác phẩm đã quen biết nhiều với bản dịch ra quốc ngữ của Cát Thành và Ngô Văn Triện. Nhưng phần phiên âm đúng như văn bản cổ thì chỉ mới có bài của giáo sư Nguyễn Quang Hồng đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống các số 6/1995; 1/1996; 2/1997. Tiến hành một luận án trên cơ sở tư liệu là tác phẩm này, chúng tôi đã cố gắng phiên âm toàn bộ cuốn sách, nên xin lần lượt công bố từng truyện để rọng đường tham khảo. Trong Thông báo Hán Nôm học 1995, chúng tôi đã công bố truyện thứ 1 của tác phẩm (Hạng Vương từ ký). Kỳ này, chúng tôi xin phiên âm và chú giải tiếp truyện thứ 14: Truyện nàng Túy Tiêu (Túy Tiêu truyện) theo bản khắc in từ đời Cảnh Hưng năm 24 (1763) được lưu trữ ở Thư viện Quốc gia Hà Nội.

Truyện Túy Tiêu được Nguyễn Dữ viết với một ngòi bút Hán văn điêu luyện. Chủ đề câu truyện là ca ngợi mối tính chung thủy của một cặp trai tài gái sắc. Túy Tiêu, người con gái xinh đẹp thông minh, hát hay đàn giỏi, duyên may gặp gỡ chàng Dư Nhuận Chi một văn nhân mặc khách. Duyên nồng tình say nàng Túy Tiêu không may bị tên quan bắt về làm người hầu. Chàng Dư chạy kiện, nhưng “mọi ty sảnh nào, viện nào đều lánh quyền hào, gác bút chẳng dám duỗi sửa”. Đôi lứa đành tạm hàm oan chịu cảnh biệt ly. Nhưng rồi vì quá tha thiết với tình yêu có lúc họ đã bị mắc mưu tên quan Trụ Quốc, những tưởng đôi lứa sẽ được sum vầy... Quang Trụ Quốc là kẻ gian ngoan một mực dối quanh kèm riết hai người, từ một thoáng thấy mặt nhau cũng chẳng được. Không làm sao với tên quan xảo quyệt đó, Nhuận Chi đành ngậm ngùi định ra về. Nhưng nàng Túy Tiêu vẫn nặng lòng chung thủy, kiên quyết tìm cách để trốn ra ngoài. Nhân một buổi hội hè mưu kế đó đã thành công, lứa đôi sum họp... Chàng Dư lại đỗ đạt... Mối tình chung thủy đó thật đáng quý biết bao và tinh thần nhân văn của câu chuyện cũng lấp lánh sắc màu. Đồng cảm với tác giả, dịch giả Nguyễn Thế Nghi đã có nhiều công dụng. Lối văn xưa, theo ngôn ngữ từ thế kỷ XVI tuy có chỗ còn khác với phong cách ngày nay, nhưng lời văn vẫn lưu loát nhịp nhàng làm sáng được chủ đề câu chuyện. Dưới đây là bản phiên âm theo nguyên văn chữ Nôm đã nói trên.

TÚY TIÊU TRUYỆN

(Truyện nàng Túy Tiêu)

Phủ Kiến Hưng có ngươi Nhuận Chi họ Dư tên là Tạo Tân, có tiếng hay thơ, lấy lời ca đồn trong Kẻ Chợ, mỗi thiên nên(1) kẻ lệnh nhân(2) đem vàng nhiều cho, áng tao đàn làm chưng hơn giá(3).

Đời nhà Trần rốt(4) năm Triệu Phong, nhân có sự yết quan nguyên súy trấn Lạng Giang tên là Trung Ngạn họ Nguyễn(5). Ngươi Trung Ngạn mẳng(6) thửa lại, vội đi trái dép rước tiếp, đặt yến nhà phiếm bích(7) đưa ra hơn mười nàng hay hát. Thửa trong ấy có nàng Túy Tiêu càng lấy làm nhỏ thó tót(8) đẹp. Ngươi Trung Ngạn trêu bảo ngươi Dư rằng:

- Chúng ấy mặc ngươi xem điểm chọn, ai khá vừa ý ấy phó mặc gió xuân đun đẩy.

Đã mà tiếng nhạc đấy(9), ngươi Nhuận Chi ngâm rằng:

“Hoa sen đôi đóa nương thức hồng say(10).

Từng sánh nhà tiên(11) cầm cái ngọc chủ(12) mà nói.

Say cầm lấy áo tiêu y gọi được đấy

Hảo hát vài tiếng khúc Vọng Giang Nam”(13).

Ngươi Trung Ngạn cười bảo nàng Túy Tiêu rằng:

- Tú tài dốc ý chưng mày vậy(14).

Ngươi Nhuận Chi nhân uống rượu đắm say lắm, đêm mới biết, đà thấy nàng Túy Tiêu ở một bên, cảm ơn lạ lắm. Sáng ngày, ngươi Nhuận Chi lạy tạ ơn cho. Ngươi Trung Ngạn rằng:

- Nàng ấy phong ưu chẳng xấu, ngươi phải xem đấy. Bèn đem về phủ Kiến Hưng. Nàng Túy Tiêu tính ngỏ sáng. Hằng khi ngươi Nhuận Chi đọc sách, thời lặng ghi đấy, bèn hay đọc nên. Ngươi Nhuận Chi trao cho tập Cổ kim thi thoại cùng non Từ bể Khúc(15). Chửa đầy năm, hễ thiên dài thập vắn,(16) với ngươi Nhuận Chi cùng bằng nhau.

Năm Mậu Tuất có mở chưng khoa đại tỷ. Ngươi Nhuận Chi soạn sửa trẩy đến tỉnh quan thí, chẳng nỡ một chốc khỏi nhau, cùng đấy đều đi chưng phường Giang Khẩu nơi hàng vóc an nghỉ vậy.

Vừa tiết Nguyên Nhật nàng Túy Tiêu bày(16) bạn gái vài người đến tháp Bảo Thiên lấy hương lễ Bụt. Thời ấy có quan Trụ Quốc họ Thân giấu hình đi chơi, liếc con mắt thấy mà đẹp lòng đấy, bắt lấy làm của mình có. Ngươi Nhuận Chi hầu cáo chưng triều, thời tùy thửa phương lấy thế mà lật. Mọi ty sảnh nào, viện nào đều lánh quyền hào, gác bút chẳng dám duỗi sửa(17).

Ngươi Nhuận Chi lòng thương xót, bèn chẳng ắt vào sảnh thí(18). Một ngày, đường rộng dời bước, thấy ngựa xem hoa mà về, trước có kẻ quát, sau có người phò, mềm đỏ dẫy đường, người tuột cái trâm, kể rơi cái xuyến xa gần lang tịch. Nối thấy(19) nàng Túy Tiêu ngồi trong kiệu Đâu Tử(20) che rèm sa, bởi dưới bóng liễu mà qua. Muốn một chốc đến bày lòng cũ, song thửa trong ấy(21) đều những họ hàng chủ nhà, chẳng dám xông xáo cưu lòng(22) xem xa, sa nước mắt bằng mưa, chẳng hay lấy một lời cùng thông(23).

Thời ấy nàng Túy Tiêu có nuôi một đôi chim Anh Vũ. Ngươi Nhuận Chi chỉ đấy rằng:

- Mi là vật mọn(24) còn hay trọn ngày cùng theo nhau, chẳng như Nhuận Chi ngủ một mình nằm vắng. Sao được hai cánh bay đường mây, vì tao thông đem thư đến nàng Túy Tiêu vậy thay!

Chim Anh Vũ kêu nhảy bằng chưng đường xin đi. Bèn làm thư buộc vào thửa chân.

Thư rằng:

“Thủa nọ vậy:

Một chốc qua giải bóng liễu,

Chẳng bởi đâu được thông nói.

Gửi hai con mắt chựng nửa giờ,

Từng gang tấc mà bằng nghìn dặm.

Mới tin cửa, hầu chưng sâu đường bể.

Chỉn niềm lòng khách chưng sầu bằng thu.

No chép nguồn cơn cũ

Càng thêm cảm thương lắm.

Nhớ ngày xưa

Ta giúp việc thơ

Náng sánh tiệc ca(25).

Chẳng nhọc chưng gửi nương cái đàn lục y(26).

Hổ đòi chưng ơn cho nàng Tử Vân(27)

Cười chửa đến chưng bịn rịn,

Giận đã sớm chưng cách lìa.

Chim hồng ghẽ chim yến mà mảng tiếng thu,

Đóa mây sầu nước Tần mà nên sắc tối(28).

Một thời ấm chưng trướng Lưu tô,

Một thời lạnh chưng chăn Hồ chỉ(29).

Những tham chốn màn vóc chưng vui.

Há nhớ kẻ lầu xanh chưng nhục.

Hằng nghe:

Bên tường vắn giọt trệ vũ.

Nơi vách nát tiếng đàn hàn tương(30).

Trời dài chim nhạn thủa sương chưng bay cách,

Đêm vắng khúc địch theo gió chưng tiếng chày.

Hằng có:

Cưu lòng chẳng nói

Gấp quyển thở dài,

Sánh cảnh chạnh lòng, chẳng hay đành giữ,

Hỡi ôi:

Sự ngõ hầu họ Hứa chưng chẳng thấy làm

Sự con đòi đất Côn Lôn chưng đà chẳng có(31).

Hợp chẳng có chưng kỳ trả ngọc,

Luống không chịu chưng ước tìm thơm.

Chưng nương tấc giấy,

Dùng chép thiên thương”.

Chim Anh Vũ một giờ bay đi đến đỗ trong trướng nàng Túy Tiêu. Nàng đã được thư, lại duỗi bày chưng tờ giấy nàng Tiết Đào(32), dấp chưng bút quan Lâm Xuyên(33), sửa thư mặc gửi lại. Thư rằng:

“Thiếp là Túy Tiêu

Trẻ nương ở cửa thị tứ,

Cả dự vào sổ nhạc quan

Điệu ca tiếp khúc, không khoe chưng dòng thói đất Hà Hữu.

Bưng mâm tề mi chửa biết chưng phép thói nàng Mạnh Quang(34).

Chìn ấy mối lành

Ai hay tiệc tốt.

Biết lòng cầm tuyến y, chẳng mượn chưng điệu người Tràng Khanh(35).

Ngâm câu thơ Hoa đường, rất yêu chưng tài ngươi Đỗ Mục.

Nghĩ mừng kim cải chưng có duyên.

Thẳm vui dây la chưng được nương(36)

Đỉnh Thiên Thai khách gặp khách(37), chửa hết thẳm vui.

Chốn Chương Đài người đưa người, bèn đem hận lìa.

Bạn lành thoắt nên chưng bạn ghét.

Duyên tốt trở làm chưng duyên xấu.

Hổ nhẫn cùng con ác thửa đỗ,

Lệ năng khi cái vịt phải đánh

Ra vào đứng ngồi chưng thủa ấy

Chửa kẻo theo nghĩa tạm

Ly biệt cách ly chưng lòng ấy

Chẳng xiết cảm duyên cũ.

Bui thừa,

Mày ngài xanh ngại vén

Biên mây lục biếng chải

Vách phấn thủa đèn tàn

Lo xuân thêm đứt ruột

Sáp hương khi thêu mỏi

Nước mắt ghẽ nhiều vết.

Ngày nọ vâng chưng thư gửi chim nhạn,

Bội phần thiết chưng tưởng khúc Ly Loan.

Tuy chưng liễu người Hàn Hoằng tạm bẻ cành dài,

Song chưng châu đất Hợp Phố hợp về quận cũ(38)

Dằng dặc nối lòng

Chép chẳng hết lời”.

Nàng Túy Tiêu bèn nhân cảm tật(39). Quan Trụ Quốc bảo rằng:

- Ngươi lại nhớ con đòi bán thơ phải chăng?

Nàng Túy Tiêu rằng:

- Phải. Thực lấy lòng thẳm đôi lứa hận thiết cách lìa. Chưng thề một nhà chửa nguôi, chưng ước đều già đã phụ. Nay thời nước Yên tranh nước Sở, mưa cây liễu ủ cây đào tươi. Lìa cách thăm thẳm một chốc hận ngàn đời. Ấy người đời xưa thửa mặc chê phú quí chưng trước mắt mà nhớ chưng chồng bán bánh, khinh phồn hoa làm phận ngoại mà cam chưng thác sa lầu. Bèn mong lấy khăn là nghỉ thắt cổ.

Quan Trụ Quốc dối đấy rằng(40):

- Ta vả lo đấy, ngươi chỉn nuôi tinh thần tới hưu dưỡng, hằng khí lực thêm bữa ăn, kíp chầy với chàng Dư nối nhân duyên nợ cũ người sao đến khinh thửa sống, những nhưng làm chưng thác chẳng có danh vậy ôi.

Nàng Túy Tiêu rằng:

- Xét bằng dường ấy ngõ hầu vâng mệnh. Chẳng vậy thời mình thiếp hết ngày hôm nay vậy.

Quan Trụ Quốc chẳng được chớ(41) khiến người giục vời người Dư sinh, ngó lấy chưng ý trả châu, vả bảo đấy rằng:

- Ta ngồi đến Thượng công, quyền cao lộc nặng, chứa người thết khách ngày tốn nghìn chung. Ngày rày thấy vời, muốn cùng hậu chẳng phải cùng bạc vậy(42). Phương chi đất Kẻ Chợ nấu gạo châu, thổi củi quế, khôn chưng nghĩ đủ. Người đã chẳng lấy tiếng dấu ấy làm hiềm, hợp chưng ấy an nghỉ, ít khoan chưng tốn củi gạo(43).

Bèn quét soạn gác mọn làm chưng chốn đọc sách, ngày khiến con tiểu hoàn hầu ở bên. Hằng khi yến ẩm, khi ra mắt ắt lấy lời hòa kính tiếp. Nhưng một sự nàng Túy Tiêu vắng lặng, miệng chửa từng nói đến. Vừa khi ngươi Nhuận Chi muốn mở bày lời nói, thời kíp ngăn rằng:

- Chưng ý riêng bịn rịn ai chẳng có lòng ấy, tưởng nàng kia nhớ ngươi cũng bằng ngươi nhớ nàng kia. Nhưng gió hoa có phiền(44), (rõ) chửa tiện cùng thấy. Chỉn chầy đấy khá khoan khoan luận vậy.

Nàng Túy Tiêu nghe ngươi Nhuận Chi đến cũng muốn sắm lòng ra mắt hỏi. Song nàng cơ, thiếp chúng nhiều, quan Trụ Quốc kia lại giữ ngừa quá nhặt, chửa từng chưng trong nửa bữa được nhân khi tiện vậy. Một ngày, quan Trụ Quốc sớm chầu chửa thôi, rình chúng thiếp khi ngủ lắm, bèn lén đến buồng học, phải khi ngươi Nhuận Chi ra nơi khác, thấy trên vách bài thơ hai thể tuyệt cú rằng:

Thửa thơ, thứ một:

“Thềm mọn dép nát bước dãi, chốn rêu in

Nhà khách lạnh lẽo một mình khép cửa.

Chim thanh điều chẳng lại, tin trái xuân muộn

Cỏ sân san sát lại dãi mặt trời xế..”

Thửa thơ thứ hai:

“Điện nguyệt lạnh dài khóa ngăn kẻ mày xanh

Nàng tiên ngày nào thực hẹn về

Cùng nhớ nhau há những chẳng có câu lành

Chẳng lấy văn chương hờn nối cách lìa”

Hầu muốn nối họa, đã nghe tiếng huyền linh ngựa hầu đến cửa vậy. Bèn chẳng ắt đáp trả. Lại một ngày khiến thửa con đòi yêu là nàng Kiều Oanh đến buồng ngươi Nhuận Chi cầu xin nằm. Ngươi Nhuận Chi duồng(45) đấy. Thửa nàng Kiều Oanh rằng:

- Lòng nàng Túy Tiêu thuộc khiến vậy. Nàng Túy Tiêu lấy rằng lang quân chẳng ai bạn cùng, khiến thiếp hay nâng gối chiếu, bằng nàng Túy Tiêu chưng ở chiêu đăm vậy.

Ngươi Nhuận Chi nghĩ cho đấy. Từ ấy tin tức ắt thông, mà chưng lòng trong cửa buồng được thông vậy(46). Ngày ấy hầu đến đêm trừ tịch, ngươi Nhuận Chi nhân rồi thưa quan Trụ Quốc rằng:

- Min(47) lấy chưng cớ ân ái trong lòng đường xa lại dây làm khách mà gang thước non Vu một tin chẳng đến, ngày tháng thoắt qua, năm lại rằng muộn. Chưng sự đã trả chẳng dám lại nói, nhưng trông trước rèm một chốc thấy được chút giờ vơi nỗi ly biệt vậy.

Quan Trụ Quốc cợt(48) đấy rằng:

- Lại đợi trước vài đêm nữa, chỉn thực ấy đêm lành, ta hợp xá chưng Liễu Chi ngươi Xương Lê, buông chưng nàng Cầm Khách ngươi Nghi Thành, quyết chẳng cấm lòng người thửa muốn mà riêng tai mắt chưng vui. Ngươi thà ít chờ, mựa hiếm(49) muộn vậy.

Ngươi Nhuận Chi “dạ, dạ” mà lui. Đến thửa đêm ấy đốt đèn chẳng nằm ngóng trông hơn một giờ. Nên một canh ở bên khóm trúc nghe lết thết có tiếng lê dép. Mở cửa rước đấy, thời thấy con ở thanh y, hỏi thửa sự lại vậy, thời thấy đưa cho chưng chè. Ít một giây chưng trước khóm hoa nghe lắc cắc có tiếng gõ cửa. Vén áo đến đấy thời thấy con đòi xích cước(50) hỏi thử sự lai vậy, thời thấy đưa cho chưng rượu. Hầu quá nửa đêm chỉn đứt tiếng tăm. Cả mất(51) thưa lòng trông. Sáng ngày bảo nàng Kiều Oanh rằng:

- Vì ta bảo nàng Túy Tiêu: Ta đam ở cõi dục, chưng riêng vui ở lời ngọt chưng dối. Sao có ở chưng trước tiệc bôi trước xui lòng bày nói còn chẳng khá được. Phương chi trông được hay trả chưng con đòi ngươi Thôi Giao, mở chưng cửa gác ngươi Xử Trọng vậy ôi! Muôn một thói lang kỵ mộng lòng tính qui dâm thấy ghét. Niềm dữ dễ gây chưng mộng mẩy, cành dại phải tra chưng rìu búa. Ở ta thời làm mất lo mà đứa kia làm được thửa vậy. Về vậy vay, về vậy vay(52)! Há khá lấy chưng cớ tìm hạt châu mà ở chưng hàm rồng đen vậy thay.

Nàng Túy Tiêu lại khiến nàng Kiều Oanh bảo Nhuận Chi rằng:

- Thiếp thửa mặc đầm đìa lâu ngày, thiếu một chốc thác như nàng Lục Châu, chỉn lấy lang quân còn ở, ngày hôm nay nói về sự biết lấy chi làm ước. Thiếp mảng tiếng bản triều có lệ cũ, hằng chưng đêm rằm tháng giêng ở bến Đông, chốn gần nước nhiều mở hội cây lúa, hết trong thành nhân vật xem dường như vách dựng. Anh bằng chớ nỡ xa bỏ hợp chưng kỳ ấy xem đợi đấy, rẽ bóng loan hợp đôi phượng ở khi ấy một chốc cất. Thiếp thà nhịn thác, mặc chờ.

Lòng ngươi Nhuận Chi bèn quyết. Quan Trụ Quốc yêu thửa ngươi Nhuận Chi đi vậy, nhiều thêm của cho, vàng ngân cái lụa từng chẳng tiếc tốn. Ngươi Nhuận Chi đầy thông lấy mà về. Giữa đường gặp con đòi già bảo rằng:

- Lang quân được chẳng lo ru? Sao gầy bớt chẳng giống tựa ngày xưa.

Ngươi Nhuận Chi bảo lấy cớ ấy, và bảo lấy chưng lời ước nàng Túy Tiêu. Con đòi rằng:

- Sự ấy dễ vậy! Hợp vì lang quân hết sức.

Đến đêm rằm tháng giêng, cùng tới bến Đông, ắt thấy nàng Túy Tiêu bởi trong vài cỗ xe chưng bến nước dong xem. Con đòi lấy thửa chùa sắt trong tay áo đánh nát kẻ chiêu đăm. Đứa cầm tán, người phù kiệu một thời phá chạy. Ngầm chưng trong muôn chúng cướp lấy đi. Đấy đây cùng xem nhau thương mừng giao hợp, song còn lo phải đứa kia thửa biết, mắc gặp dồn bắt. Nàng Túy Tiêu rằng:

- Đứa kia lấy chưng tư chất hèn mọn đương chưng dùng ngươi Vệ ngươi Hoắc(53), kẻ trách kẻ cầu, người xin người gửi, cửa bằng canh sôi, bảo bối vàng bạc chưng chứa đầy dẫy nóc mà lọt ra ngoài. Dầu chẳng lò quỷ đốt chảy, chỉn lệ của trái chẳng bởi đâu mặc tiêu tan vậy. Tội đầy, hận lắm thế ắt chẳng dài. Nhưng thế lửa còn thịnh hun nóng khá dái(54). Chẳng bằng náu hình lánh dấu trút dép để hương thôn, khiến chờ tai mắt chưng lo, ngõ kẻo(55) cửa sân chưng vạ.

Ngươi Nhuận Chi vậy nghe thửa chước, ngầm đến phủ Thiên Trường nương người bạn họ Hà ấy.

Niên hiệu Đại Trị(56) năm thứ bảy (1364) quan Trụ Quốc lấy vì sự xa xỉ phải tội. Ngươi Nhuận Chi mới đến Kẻ Chọ, tót được đề tiến sĩ(57). Bèn vợ chồng đều đến già vậy.

Lời bình:

Hỡi ôi! Chưng người chẳng ngay, vua đấng trung hổ lấy làm tôi; Chưng gái chẳng chính, sĩ đấng trung hổ lấy làm vợ. Nàng Túy Tiêu ra bởi dòng Xướng nhi(58), vốn chẳng có đức lành. Ngươi Nhuận Chi ắt thửa lấy chiều chi mà quyến luyến dường ấy. Lấy làm thửa hiền vay(59)? Thời kia vợ ngươi Trương, nọ vợ ngươi Lý. Lấy làm thửa sắc vay? Thời hoặc ngươi Dương Thành mê người Hạ Sái. Chỉn bèn dễ chưng khi đi khi tới, nhẫn nhục đến cùng người. Mổ đầu hùm, vuốt râu hùm, hầu chẳng khỏi miệng hùm. Bằng ngươi Nhuận Chi ấy thực khá rằng si vậy.

Chú thích:

1. Dồn: Đồn đại - mỗi thiên nên: mỗi thiên làm xong.

2. Lệnh nhân: nhạc công. Thời vua Hoàng Đế có người tên là Lệnh Luân đã tạo ra âm luật của nhạc. Cho nên đời sau gọi nhạc công là lệnh nhân.

3. Lấy làm chưng hơn giá: cho là người giỏi thơ hơn cả.

4. Thiệu Phong: niên hiệu đầu của Trần Dụ Tông (có tên là Hạo) 1341-1357.

5. Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) người ở xã Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thân, niên hiệu Hưng Long 12 (1305) đời vua Trần Anh Tông. Năm ông 16 tuổi được mệnh danh là thần đồng. Sau đến triều Dụ Tông, ông làm chức Kinh lược sử trấn Lạng Giang, tiếp trải các chức Hựu sảnh và được vào làm việc ở Phủ chính. Ông thọ 80 tuổi, hiệu là Giới Hiên tiên sinh.

6. Mắng thửa lại: nghe có (Dư Nhuận Chi) đến.

7. Phiếm bích: phiếm bích đường: tên một phòng khách rộng rãi.

8. Tót: rất, nhất (Túy Tiêu tốt đẹp: nàng Túy Tiêu nhỏ nhắn xinh đẹp).

9. Nhạc dấy: nhạc nổi lên.

10. Hồng say: ngắm hoa mà như người ngấm rượu say mặt hồng lên.

11. Từng sánh nhà tiên: từng vai bên vai với người đẹp.

12. Chủ là tên một loài thú có hình dáng giống hươu nhưng to hơn, đuôi của nó to, dài sát đất. Sách Danh Uyển giải thích rằng: Đó là giống vật giống như hươu nhưng lớn hơn, được gọi là chủ. Cả đàn hươu đều đi theo sau nó, lấy sự chuyển động của đuôi nó làm chuẩn. Sách Bản thảo cương mục chép: xưa việc nói năng đàm đạo rất hồn toàn. Chủ đàm là chỉ việc đàm đạo, nói năng rất chuẩn mực vửa phải, không viển vong xằng bậy. Vua nước Tấn là Diễn Thôi mỗi khi bàn đến Lão Trang, trong tay luôn cầm ngọc bích và đuôi con chủ (theo sách Thư ngôn cố sự).

13. “Vọng Giang Nam”: tên ca khúc thường được các ca nữ hát trong các cuộc vui.

14. Tú tài dốc ý chưng mày đấy: chàng Tú tài đã dốc lòng yêu thương nàng đấy.

Ngỏ: tốt, rất; ngỏ sáng: rất giỏi.

15. Cổ kim thi thoại là tên tác phẩm có chép cả Từ chương và Khúc ca, ở đây muốn khen số lượng Tử, Khúc mà nàng Túy Tiêu thông hiểu rất phong phú.

16. Thiên dài, thập vắn: bài từ dài, khúc ca ngắn.

17. Bày: vời, rủ.

18. Duỗi sửa: thay cho thẳng lại; chẳng dám sửa duỗi: không dám thay sửa theo đúng sự thật.

19. Bèn chẳng ắt vào sảnh thí: bèn không vào thi nữa.

20. Nói thấy: Tiếp thấy, lại thấy.

21. Đâu Tử: tên kiệu (theo Thư Ngôn).

22. Thửa trong ấy: nhưng ở trong ấy.

23. Chẳng dám xông xáo: chẳng dám tự do.

24. Thông: thông suốt, tới lui; chẳng hay một lời cùng thông: chẳng có một lời qua lại với nhau.

25. Mọn: nhỏ, bé.

26. Ta giúp tiệc thơ, nàng giúp tiệc ca: Ta ấy làm thơ nàng ấy múa ca.

27. Lục y: tên cái đàn của Trác Văn Quân.

28. Tử Vân: Kỹ nữ đàn hay hát giỏi, xinh đẹp dịu dàng.

Sách Viên Cơ có chép:

Đỗ Mục đời Đường làm quan Ngự sử được cai quản đất Lạc Dương. Lúc bấy giờ Lý Thông bị bãi chức Trấn thủ về quê. Lý Thông là người nổi tiếng say mê âm nhạc ca kỹ và là bậc hào hoa bậc nhất trong triều. Ông từng mở tiệc đón khách có đến hàng trăm nàng ca kỹ, ai cũng xinh đẹp dịu dàng. Có lần Đỗ Mục [đến dự] ông trừng mắt hỏi Lý Thông: Ở đây có nàng Tử Vây. Ai là nàng ấy, hãy cho ta được ân huệ ngắm nàng. Lý Thông cười, cô kỹ nữ cũng ngoảnh lại phá cười. Đỗ Mục nhấp 3 hớp rượu đằng hắng mấy lần rồi đứng lên đọc.

“Nhà hoa hôm nay mở tiệc lớn

Ai mời Phâ ty Ngự sử tới đây

Lại nói lời khiến mọi người phải sợ.

Hai hàng má phấn chợt bay đi”.

Có lẽ đây là cách Đỗ Mục chữa thẹn khi chợt nhận ra yêu cầu quá cao. Trong tác phẩm là nỗi lòng tiếc nuối xót xa của chàng Dư về người yêu kiều diễm của mình.

29. Chim hồng: là giống chim thuộc loại động vật đẹp có lúc được gọi là Phỉ hồng. Thiên Đông Chu Kỷ có chép rằng: “Chim Phỉ chim Hồng đầy đồng...”.

Sách Vận thụy bát canh vân chép: Mạnh Hạo Nhiên nghe thấy lá phong rơi thấy nước rơi tý tách là biết rằng tiếng thu đã tới.

Viên cô Lý Bạch ở bài Tống mỹ nhân Vương Viên nhập Thục phú có câu:

“Mây nước Hàn như vải, mây nước Sở như mặt trời

Mây nước Chu như vành khuyên bánh xe, mây nước Tần như người con gái đẹp”.

Kiếm các phú cũng có thơ rằng:

“Tiễn giai nhân chừ đi rồi

Biết bao giờ chừ trở lại

Chim hồng xa chim én chừ tiếng thu

Đám mây buồn thay cho nước Tần chừ tối lại”.

30. Hồ chỉ: Chăn bằng giấy dán lại. Dương Tục làm quan Thái thú chỉ nằm chăn bằng vải, khi không làm quan nữa thì nằm chân giấy (theo Văn Uyển).

Xét Đời Hán có Dương Tục tự là Hưng Tổ quê ở Bình Dương, khi làm chức Tư lệ hiệu úy có cha là nhà nho từng làm quan đến chức Thái Thường. Còn ông Tục nhờ là bậc công thần về sau được làm quan Thái Thú ở 2 quận Nam Dương và Lư Giang, dẹp tan bọn giặc cỏ, thăm hỏi những người dân nghèo khổ bệnh tật. Riêng mình thì áo rách ngựa gầy, sống giữ mình thanh bạch. (Theo Thượng hựu lục). Cả câu ý nói nỗi cô đơn chịu đựng của Dư Nhuận Chi.

31. Trệ vũ: mưa dồn ứ lại; bên tường vắn: bên bức tương thấp.

- Hàn tương: Thơ Hàn Dũ có câu: Bi ca hỗ đáp kiến tương hàn (trong bài ca bi ai chỉ có tiếng ve sầu gọi nhau).

32. Côn Lôn là địa danh: nơi có nàng hầu Hồng Tiêu. Ma Lặc là người hầu trong nhà Thôi Dốc. Vào năm Đại Lịch đời Đường có người tên là Thôi Dốc là bố của Sinh. Thôi Sinh là viên quan hiển đạt quen biết các quan huân thần nhất phẩm trùm thiên hạ. Khi làm chức Thiên Ngưu, bố sai lên tỉnh. Quan nhất phẩm ở đây cho cô ca kỹ Hồng Tiêu mang rượu ngọt đựng trong âu vàng cho Sinh uống. Sinh bèn khước từ bỏ về, lại cho nàng Hồng Tiêu tiễn về. Về đến nhà lòng Sinh bỗng xốn xang, ngày không muốn ăn, đêm không muốn ngủ chỉ ước ao trong nhà có người hầu đất Côn Lôn. Ma Lặc hỏi và biết nguồn cơn liền kiên quyết giúp chủ là Thôi Sinh có nàng Hồng Tiêu. Đây là nói công của bề tôi giúp cho chủ được hạnh phúc sum họp.

33. Các tài tử ở đây cho thế là tiện, cũng dùng loại giấy nhỏ đó để viết thư và gọi luôn là tờ giấy Tiết Đào.

34. Vương Hy Chi đời Tấn là người viết chữ rất đẹp, ông làm chức Nội sứ ở Lâm Xuyên. Nên khi nói đến chữ viết hay lời thơ đẹp người ta thường nói ngòi bút Lâm Xuyên.

35. Nàng Mạnh Quang (tức Mạnh Khương) dáng người béo phì da đen xấu sức khỏe lại quá mạnh có thể bê cả cối đá, nhưng đức hạnh thì cực cao. Tuy chọn được người yêu nhưng không lấy. Năm 30 tuổi cha mẹ hỏi nguyên cớ làm sao. Nàng trả lời: con muốn có 1 người có tiết thảo như Lương Hồng! Lương Hồng vô cùng cảm động bèn lấy nàng. Họ sống với nhau đạm bạc nhà tranh áo vải nhưng vô cùng yêu thương và quý trọng nhau. Mỗi lần xới cơm mời chồng không bao giờ nàng dám ngước lên nhìn Lương Hồng mà phải nâng cái án cao ngang mày. Bởi vậy có tích bê khay ngang mày (treo Thượng hữu lục). Ở đây là nói mối tình chung thủy kiên trinh của Túy Tiêu.

36. Tràng Khanh: tên tự của Tư Mã Tương Như. Tương Như nhờ gảy khúc đàn “Phượng cầu hoàng” mà lấy được nàng Trác Văn Quân.

- “Hoa đường kim nhật ỷ duyên khai” là bài thơ của Đỗ Mục làm lúc ông ở chức Ngự sử phân ty ở Lạc Dương, có ý tự hận về việc đi tìm hương thơm hơi muộn. Bài thơ rất được tầng lớp ca kỹ yêu mến.

37. La: Là những dây leo. Bộ thảo cũng có thể đọc là la. Dây leo trên cây gọi là la, leo trên cỏ gọi là thổ ty. Sách Nhĩ Nhã nói: xanh mảnh dài, không có xen lẫn loại dây leo nào khác. Chàng là có mỹ la, thiếp là hoa thổ ty. Dài hàng trăm trượng đều dựa vào cây tùng rồi nối nhau thành một nhà.

Theo Viên Cơ, Phạm Vân Thi có câu:

Hữu Duy kinh Tần Nghĩa, miên man lộng đằng la (con chim Duy sợ (thợ săn) Tần Nghĩa, cứ chui lủi nhảy nhót trong đám dây leo).

38. Về điển Lưu Thần, Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai được gặp tiên.

39. Hợp Phố: là quận miền biển Đông Hải, thuộc tỉnh Quảng Đông, vốn có nhiều ngọc châu. Nhưng khi quan Thái thú không tốt đến cai trị, thì ngọc châu mất. Lúc quan Thái thú ấy đi rồi ngọc châu lại nhiều. Ở đây chỉ tấm lòng trung trinh quyết không khuất phục của nàng Túy Tiêu.

40. Nhân cảm vật: vì thương cảm mà nên bệnh.

41. Dối đấy rằng: lừa nàng Túy Tiêu rằng

42. Chẳng được chớ: đành lòng vậy, đành chịu vậy.

43. Muốn cùng hậu: muốn thấy ta là người phúc hậu.

44. Khôn chưng nghỉ đủ: nghĩ khó mà lo đủ.

45. Gió hoa có phiền hoa bị gió làm phiền: ý nói nàng Túy Tiêu còn ốm yếu.

46. Duồng: đuổi

47. Lòng trong cửa buồng: nỗi lòng của nàng Túy Tiêu.

48. Min: tôi, ta.

49. Cợt: diễu

50. Mựa hiềm: chớ hiềm.

51. Thanh y: áo xanh; xích cước: gót đỏ, hài đỏ.

52. Cả mất: mất hết, mất cả.

53. Về vậy vay: về vậy thôi

54. Vệ, Hoắc là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh là 2 danh tướng đời Hán. Ở đây Túy Tiêu có ý khinh quan Trụ Quốc tư chất hèn mọn mà dám đứng trên những bậc hiền tài như thế ắt ngôi vị không bền.

55. Khá dái: Khá sợ, rất sợ.

56. Ngõ kẻo: Khá để.

57. Niên hiệu thứ 2 của vua Trần Dụ Tông (1348-1369).

58. Tót được đề Tiến sĩ: vượt lên thi đỗ Tiến sĩ.

59. Xướng nhi: người làm nghề ca hát.

60. Lấy làm thửa hiền vay: cho là kẻ hiền chăng.

Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.38-56)

Hoàng Hồng Cẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm