VI | EN
62. Quá sơn bảng văn - câu chuyện về nguồn gốc người Dao (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

QUÁ SƠN BẢNG VĂN - CÂU CHUYỆN VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI DAO

NGUYỄN THẾ NAM

Viện Nghiên cứu Tôn giáo

Dân tộc Dao là một trong 54 dân tộc anh em trên đất nước chúng ta, theo cuốn Người Dao ở Việt Nam(1), dân tộc này có nguồn gốc từ Trung Quốc và vào Việt Nam thành nhiều đợt trong khoảng những năm từ thế kỷ XIII - XX. Cũng như nhiều dân tộc khác, người Dao có đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tinh thần vô cùng phong phú và đa dạng. Điều này được thể hiện rõ qua các nghi lễ tôn giáo, những khúc hát, câu chuyện truyền miệng, những cuốn sách mà cộng đồng tộc người này còn lưu lại.

Kho tàng di sản sách cổ của người Dao được đánh giá là nguồn sử liệu quan trọng nhằm góp phần nghiên cứu lịch sử tộc người. Sách cổ như một tấm gương phản chiếu các sự kiện lịch sử ở miền núi nói chung và lịch sử dân tộc Dao nói riêng. Một trong những cuốn sách được giới nghiên cứu dân tộc học nhắc đến nhiều nhất khi đề cập đến nguồn gốc dân tộc Dao là cuốn Quá sơn bảng văn hay còn có tên gọi khác là “Bình Hoàng thắng điệp”, nội dung ghi lại câu chuyện (có thể coi là thần thoại) nói về xuất xứ của dân tộc này và nguyên nhân nhà vua (Trung Quốc) cấp cho con cháu người Dao Quá sơn bảng văn (Giấy thông hành qua núi). Sách được người Dao sao chép lại nhiều lần, mục đích truyền lại cho con cháu và coi đây như giấy thông hành hợp pháp. Với văn bản này, mỗi nhóm ngành Dao đều có những dị bản khác nhau. Các dị bản thường có sự sai lệnh ít nhiều về nội dung và hình thức trình bày. Người Dao Lô Giang ở Lạng Sơn chép Quá sơn bảng văn được viết trên tấm vải khổ hẹp, rìa được đệm thêm vải cho cứng chắc, ghi bằng chữ Nôm - Dao(2). Người Dao Họ (Dao quần trắng) và Dao Đỏ đa số lại chép thành sách…. Cuốn Quá sơn bảng văn mà chúng tôi giới thiệu sau đây là một dị bản của người Dao Họ.

Chủ sở hữu là ông Phùng Xuân Tư, hiện sống tại xã Ngòi A, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Vì là người “ngoại tộc” nên chúng tôi chỉ được tiếp xúc với Quá sơn bảng văn qua bản photo, do đó không miêu tả được kích thước cụ thể. Tuy nhiên, toàn văn gồm 16 tờ đôi (32 tờ lẻ). Mỗi trang có 8 dòng, mỗi dòng có 19 chữ, một số trang có số dòng và chữ ít hơn thông thường. Ước tính, văn bản có khoảng hơn 3500 chữ. Trang bìa ghi tên sách Quá sơn bảng văn, tên chủ sách là ông Phùng Xuân Tư, thời gian sao chép vào ngày mùng 3 tháng 2 năm 1996 và mục đích của việc sao chép này là “nhân bản” Quá sơn bảng văn để truyền lại cho con cháu đời sau. Dòng đầu tiên của trang thứ nhất ghi “Quá sơn bảng văn - Bình Hoàng thắng điệp”, dòng thứ hai ghi “Chính Tống, tại Cảnh Định nguyên niên, thập nhị nguyệt, sóc phủ Dao nhân thập nhị tính - Đời Tống, niên hiệu Cảnh Định năm đầu tiên [1260](3), ngày mùng 1 tháng 12(4)”. Dòng thứ ba ghi: “Chiếu đích tiền triều Bình Hoàng Thắng Điệp canh tân xuất cấp thập nhị tính các trục liệt vu hậu vĩnh viễn lưu truyền - Dựa vào Bình Hoàng Thắng Điệp của triều trước, (nay) sao mới và cấp cho 12 họ được liệu kê ở sau, mãi truyền đời đời”. Tiếp sau là nội dung chính của văn bản. Hai tờ cuối cùng ghi địa chỉ chủ sách là ông Phùng Xuân Tư, sống tại xã Ngòi A, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Ghi năm sao lại Quá sơn bảng văn vào năm 1996.

Nội dung sách kể lại chuyện ông tổ người Dao vốn là con Long khuyển, lông đen vằn vàng, có công diệt giặc, được Bình Hoàng yêu quý gả cho cung nữ làm vợ. Sinh ra 12 người con, các con đều được phân phong. Sau con cháu người Dao ngày càng sinh sôi đông đúc, Bình Hoàng đành cấp cho Quá sơn bảng văn làm giấy tờ hộ thân và có quyền đi đến các vùng khác nhau để sinh sống. Phần cuối của văn bản còn nói đến 12 họ con cháu Bàn Hộ chia thành các nhóm ngành Dao khác, đi đến các vùng khác nhau lập nghiệp và có các tên gọi khác nhau.

Sau đây, chúng tôi xin trích giới thiệu một số đoạn có chứa nhiều thông tin giá trị trong văn bản này(5).

1- Đoạn kể về Bàn Hộ giúp Bình Hoàng giết giặc.

“… Bình Hoàng thắng điệp có từ xa xưa, gốc rễ người Dao vốn là một con chó ngao. Đó là chú Long khuyển từ trên trời giáng xuống vùng Côn Lôn. Vào thời Bình Hoàng trị vì, có một con chó từ trên không giáng xuống, thân dài ba thước, lông đen vằn vàng trông rất kỳ lạ. Bình Hoàng vô cùng yêu mến. Bỗng một ngày giặc ngoại bang đến xâm lấn đất nước, Bình Hoàng và các quần thần bày mưu chống lại kẻ thù, các văn võ trong triều không ai dám đi, duy có Long khuyển tên là Hộ khi đấy đang ở trong điện vàng liền nhảy đến trước bệ rồng bái lạy rồi đột nhiên nói tiếng người, nguyện được báo ơn Hoàng đế. (Nó) tự mình sắp đặt kế hoạch, không cần đến binh mã. Bình Hoàng nghe vậy vô cùng mừng rỡ, lệnh mang lương thực đến cho Long khuyển và còn hứa rằng: “Nếu lập công trở về sẽ gả cho cung nữ”. Bàn Hộ cúi lạy, nhận lương thảo rồi từ biệt lên đường, các quần thần đều tiễn đưa ra tận cổng thành. Long khuyển vượt biển hết bảy ngày bảy đêm thì đến được vùng đất của Cao Hoàng. Lúc đó Cao Hoàng đang thiết triều, Bàn Hộ bèn nhảy vào điện vàng mà phủ phục. Nhà vua thấy vậy bèn nói với quần thần rằng: “Trẫm thường nghe tục ngữ có câu rằng: lợn đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang. Nay có Long khuyển lông đen vằn vàng đến đây, chắc hẳn đất nước thịnh trị. Xem ra, sự xuất hiện của chú chó này là điềm lành của nước nhà”, thế là vua quan đều vui vẻ thoái triều. Cao Vương đưa Bàn Hộ vào cung, ban cho thức ngon vật lạ nhiều không kể xiết. Một hôm, nhà vua cùng quần thần đi thong dong dã ngoại thưởng hoa, vua uống rượu say ngủ không biết gì, nhân cơ hội đó Bàn Hộ cắt chết nhà vua và lấy thủ cấp về dâng lên Bình Hoàng. Nhà vua mừng rỡ cho Bàn Hộ hưởng chức Quốc công và kết duyên cùng cung nữ. Vợ chồng Bàn Hộ đến sinh sống ở núi Cối Kê. Tại đây hai người dựng căn nhà nhỏ, lấy rừng sâu làm chốn ẩn thân. Bình Hoàng lệnh cho người đem củi, lương thực, tiền vàng đến cung cấp cho hai vợ chồng, không để thiếu thốn. Ngày tháng qua đi, đôi vợ chồng sinh hạ được sáu nam, sáu nữ. Bình Hoàng hay tin vui mừng khôn xiết bèn sắc phong cho Bàn Hộ là Thủy tổ Bàn vương, sắc cho sáu nam, sáu nữ là con cháu của vua Man. Họ tuy nhận tinh khí của loài súc khuyển nhưng được cung nữ mang thai, sắc cho được mang các họ Bàn, Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đái, Lưu, Triệu. Lệnh cho sáu con trai và sáu con gái phải kết hôn với người ngoại tộc để duy trì nòi giống về sau. Đó chính là nguồn gốc của 12 họ (người Dao)(6) …”

Sau này 12 người con của Bàn Vương đều được phong chức và được hưởng lộc nhà vua. Cũng từ đây, con cháu người Dao ngày càng phát triển mạnh mẽ. Năm Hồng Vũ (1368 - 1398), nạn hạn hán xảy ra trong ba năm, con cháu 12 họ người Dao không có gì ăn, nhà vua bèn cấp cho mỗi người một cái búa, một con dao quắm để phá rừng làm ăn. Họ lần lượt phá hết các ngọn núi: Kim sơn, Ngân sơn, Ô Nha sơn, các núi còn lại ở Quảng Đông, núi Lưu Đông, Lưu Tây, Lưu Nam, Lưu Bắc, tiến đến phá núi Hồ Quảng, Thiển Tây, Vân Nam, Quý Châu, Nga My, Thiên Đài, Đại La, Ngũ Thường… Tất cả 18 động và 48 ngọn núi. Bình Hoàng không có cách nào bèn cấp Quá sơn bảng văn làm giấy tờ thông hành và chia con cháu người Dao thành các nhóm đến các vùng khác nhau để làm ăn(7).

2- Đoạn nói về các nhóm ngành Dao

- Nhóm thứ nhất vào núi Hồng Thủy Khiếu Giáo, núi Lưu Đông gọi là Đại Bản man;

- Nhóm thứ hai vào núi Hồ Quảng gọi là Hồ man;

- Nhóm thứ ba vào núi Lạc Dương gọi là Đường Hồ man;

- Nhóm thứ tư vào núi Lưu Bắc gọi là Tú Dương man;

- Nhóm thứ năm vào núi Vân Nam gọi là Cao Hiền man;

- Nhóm thứ sáu vào núi Việt Nam gọi là Tiểu Bản man;

- Nhóm thứ bảy đi vào núi Thiển Tây gọi là Lam Đĩnh man;

- Nhóm thứ tám đi vào núi Hậu Giai vùng Quế Lâm gọi là Bát Tính man;

- Nhóm thứ chín đi vào núi Tam Đương gọi là Sơn Đương man;

- Nhóm thứ mười đi vào núi Vân Sơn gọi là Trang Tử man;

- Nhóm thứ mười một đi vào núi Phúc Kiến gọi là Bạch Khố man;

- Nhóm thứ mười hai đi vào núi Quý Châu gọi là Ba Tiêu man.

….

3. Kết luận

Câu chuyện về Bàn Hộ, về việc vua Trung Quốc cấp Quá sơn bảng văn cho con cháu 12 họ người Dao để di tán khắp nơi sinh sống là một truyện thần thoại, song gạt bỏ những yếu tố thần kỳ, chúng ta vẫn tìm được những chứng cớ góp phần khẳng định thời gian di cư của người Dao vào Việt Nam. Niên hiệu Cảnh Định (1260-1264) là thời gian Quá sơn bảng văn ra đời thuộc thế kỷ XIII, điều này hoàn toàn phù hợp với giả thiết cho rằng người Dao du nhập vào nước ta vào khoảng thời gian từ thế kỷ thứ XIII - XX.

Ngoài ra, những ghi chép về 12 nhóm Dao ở cuối văn bản cũng đã cung cấp thêm tư liệu để nghiên cứu, so sánh về các nhóm ngành Dao hiện có ở Việt Nam nói riêng và ở Trung Quốc nói chung. Cuốn Quá sơn bảng văn nói trên tuy không phải là văn bản đầu tiên, duy nhất được tìm thấy, song vẫn là một cuốn sách quý, quý ở khía cạnh là văn bản Hán Nôm của một dân tộc ít người và hơn nữa chính là những giá trị mà văn cung cấp cho việc nghiên cứu, so sánh về nguồn gốc dân tộc, phong tục tập quán trong đời sống hàng ngày của các nhóm ngành Dao trên đất nước Việt Nam.

 

Chú thích:

(1) Bế Viết Quảng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung: Người Dao ở Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1971.

(2) Theo Phan Ngọc Khuê: Lễ cấp sắc của người Dao Lô Giang ở Lạng Sơn, Nxb. VH-TT, H. 2003.

(3) Niên hiệu Cảnh Định, vua Tống Lý Tông, thời Nam Tống (1260-1264).

(4) Trang này ghi tháng mùng 1 tháng 12, nhưng ở trang 30 lại ghi là ngày mùng 1 tháng 11.

(5) Phạm vi một bài thông báo có hạn nên chúng tôi bỏ qua phần phiên âm, xin giới thiệu phần dịch nghĩa.

(6) Đoạn trong ngoặc kép “ ”, dịch chi tiết.

(7) Đoạn này lược dịch./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.704-709)

Nguyễn Thế Nam
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm