63. Bản thần tích tại làng Thọ Lão, xã Thọ An, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây
BẢN THẦN TÍCH TẠI ĐÌNH LÀNG THỌ LÃO
XÃ THỌ AN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
TỈNH HÀ TÂY
NGUYỄN ĐĂNG SƠN
Ban Quản lý di tích Hà Tây
Đình Thọ Lão tổng Thọ Lão huyện Đan Phượng phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông (nay là xã Thọ An huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây) nguyên là một ngôi đình hàng Tổng, tọa lạc tại rìa làng Thọ Lão. Đây là một ngôi đình khang trang bề thế. Theo các bậc cao niên truyền lại, thì ngôi đình này nằm trên lưng con rùa theo thế Hoàng xà vọng thủy (Rắn vàng ngắm nước động). Đình bao gồm các hạng mục như Tả hữu mạc, Đại bái, hậu cung.
Trong chuyến đi khảo sát, kiểm kê di tích phục vụ cho việc Qui hoạch tổng thể di tích Hà Tây đến năm 2020, chúng tôi đã phát hiện ra bản thần tích này. Tuy nhiên, đây không phải là bản thần tích nguyên bản được sao chép từ thời Vĩnh Hựu mà nó đã được sao lại nhiều lần nên không tránh khỏi Tam sao thất bản, ghi chép về bốn vị Thành hoàng làng là những tôn thất của nhà Trần như Hoàng thái hậu, Thượng tướng quân Trần Quang Khải… Sở dĩ người dân nơi đây phụng thờ những nhân vật lịch sử này là bởi xưa kia vùng này vốn là điền trang của tôn thất nhà Trần nằm ở phía tây của trấn Sơn Nam Thượng. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, có những lần triều đình phải lui binh về đây để tạm lánh thế giặc mạnh. Tại đây vẫn còn dấu tích về những sự kiện này như hành cung (nay là đình), giếng và một số chứng tích khác.
Có thể nói, bản thần tích này đã được “gia cố” thêm, mang màu sắc huyền thoại để trở thành những nhân vật siêu phàm, bảo trợ đời sống tâm linh của người dân nơi đây. Qua khảo sát, chúng tôi thấy đây là bản thần tích mang khá nhiều sự kiện (cả chính sử lẫn truyền kỳ), những bài thơ tứ tuyệt mang tính đối đáp giữa Trần Quang Khải, các tướng lĩnh và vua Trần về kế sách đánh giặc, giữ nước… Vì vậy, chúng tôi gửi bản dịch thần tích này tới Hội nghị Thông báo Hán Nôm học năm 2006 của quí Viện.
THẦN TÍCH XÃ THỌ LÃO TỔNG THỌ LÃO HUYỆN ĐAN PHƯỢNG PHỦ HOÀI ĐỨC TỈNH HÀ ĐÔNG
Ngọc phả cổ lục ghi chép sự tích bốn vị Đại vương (Quốc vương thiên tử, Lã Thị Thái nương hoàng hậu, Hưng vương Quốc Tuấn, Duệ trí Đại vương) con cháu triều Trần, họ Việt Thường.
Thuở trời Nam mở vận thánh tổ dựng cơ đồ, hơn 2000 năm Hùng Vương dựng nước. Đến các đời: Đinh, Lê, Lý, Trần, vua sáng, tôi hiền đời nào cũng có. Thuở đó ở trại Tức Mặc, huyện Chí Linh, phủ Thiên Trường, xứ Nam Định có một người họ Trần làm quan đại thần ở triều Lý. Lúc này thế nước đã đến lúc cáo chung, cơ đồ nhà Lý đến ngày mạt vận, nữ vương Chiêu Hoàng lên ngôi, Trần Thủ Độ làm phụ chính cho Chiêu Hoàng, ông có một người cháu ruột tên là Trần Dung vào làm Thị Nội chính điện, Chiêu Hoàng thấy dung mạo khôi ngô nên lấy làm ưng ý lắm, bèn truyền ngôi cho. Việc này thật có vận mệnh, trời lập nhà Trần mà bỏ nhà Lý vậy. Chẳng phải đánh nhau tranh giành mà nên nghiệp đế. Há chẳng phải do trời đất sao? Sau này có tiên sinh họ Lê làm bài thơ rằng:
Nhất sắc khuynh thành khởi chiến tranh
Kỵ long đăng vị tự nhiên thành
Giai do thiên mệnh nhân tâm thuận
Bách quỹ đồng quy hướng đức danh
Dịch là:
Nữ chúa nhường ngôi chẳng chiến tranh
Rồng cưỡi nên ngôi việc tự thành
Tất cả do trời lòng người thuận
Trăm cõi theo về dậy đức danh.
Lại nói: Lúc Trần Thái Tông lên ngôi Hoàng đế (vua họ Trần, tên húy là Dung. Tổ tiên trước là người Mân (Phúc Kiến Trung Quốc). Sang ở đất Tức Mặc đến đời thứ 4, cha là Trần Thừa, mẹ là Lê Thị An. Nhà vua vốn là con thứ, anh trai là Trần Liễu, chú là Trần Thủ Độ. Nhà vua ở ngôi 33 năm, thọ 60 tuổi). Nhà vua là một người thông minh thánh triết, đại độ chí nhân. Có đủ khí chất của một bậc Đế vương. Năm ngoài 30 tuổi, cha mẹ vốn là dân sông nước, nằm mơ thấy Giao Long chui vào miệng mà sinh ra Trần Liễu. Trần Liễu bẩm tính thông minh, trí tuệ đức độ hơn người. Sau khi lên ngôi Hoàng đế, nhà vua trao cho Trần Liễu chức Thái úy ở phủ Thanh Hóa. Trần Liễu lấy vợ người ở đất Vạn Kiếp, họ Lã, tên huý là Hồng, làm Chính phi. Lúc đó ông đã ngoài 30, Phi nhân tuổi 23 (mẹ của Trần Liễu từng mộng thấy Giao Long chui vào miệng, thì đến ngày 08 tháng giêng năm Bính Thìn sinh ra Ngài. Mẹ của Phi nhân mộng thấy bắt được gà vàng mà sinh ra Phi nhân ngày 10 tháng 9 năm Canh Tý). Vợ chồng sống với nhau như uyên ương phải lứa, duyên cầm sắt hài hoà. Rồi ứng mộng điềm sinh con trai. Một hôm Phi nhân đang ngủ bỗng thấy một áng mây ngũ sắc từ trên trời giáng xuống, hoá thành một con đường mây thẳng tới trước mặt. Trên đường mây có thấy hai tiểu đồng, một mặc áo xanh, một mặc áo đỏ. Tiểu đồng áo xanh tay cầm trượng đỏ, đầu vàng. Tiểu đồng áo đỏ tay cầm đao vàng. Tiểu đồng áo xanh đuổi tiểu đồng áo đỏ, tiểu đồng áo đỏ thua chạy. Tiểu đồng áo xanh chém được áo đỏ bèn đem đầu áo đỏ đặt lên bụng Phi nhân. Phi nhân tỉnh dậy đem giấc mơ kể lại cho Trần Liễu nghe. Ông bảo với vợ rằng: “Nhà ta phúc dày, tất có thiên thánh giáng sinh giúp nước, chẳng phải là mộng thường đâu !”. Quả hơn một tháng sau Phi nhân có mang, 13 tháng sau, vào giờ Thìn ngày 10 tháng 3 năm Ất Mão sinh hạ được 1 trai, thể mạo đường đường, phong tư lẫm lẫm, mặt vuông chữ điền, ngũ nhạc chầu thiên, lông mi như vua Nghiêu, mắt như vua Vũ, lưng như vua Thang, vai như vua Thuấn. Thật là tướng lạ trên đời. Lúc sinh nở có một dải mây đỏ theo gió giáng xuống phòng, sáng chói huy hoàng, hương thơm theo gió mát toả ra ngào ngạt, tràn ngập cả phòng lan. Sinh được 100 ngày sau, cha mẹ vô cùng yêu quý, đặt tên con là: Tuấn. Sau đó Thái uý (tức Trần Liễu) theo Hoàng đế đi chinh phạt Chiêm Thành, dẹp yên giặc đã trở về, Hoàng đế sắc phong Thái uý làm Hiển Hoàng, phong Chính phi họ Lã làm Thái hậu, rồi trở về phủ Thanh Hóa.
Hồi còn nhà Lý xưa, có một người Cung phi (tức Huệ Tông Cung phi) hiệu là Thuận Thiên Công chúa, nàng có một sắc đẹp chim sa cá lặn, hoa ghen nguyệt thẹn, Trần Liễu thấy nàng liền lấy làm vợ. Được vài năm, Thuận Thiên có thai 3 tháng thì Trần Thủ Độ lập mưu bắt Hoàng đế lấy làm Chính phi, lên ngôi Hoàng hậu (sinh ra Quốc Khang), Khiến cho Trần Liễu rất phẫn uất (vì Trần Liễu là anh, Thái Tông là em), anh em ruột thịt, là vua lại nghe mưu mô của Trần Thủ Độ làm điều phi luân vô đạo. Lúc đó Trần Quốc Tuấn lên 7 tuổi, bèn gửi cho em gái là Thụy Bà Công chúa nuôi dưỡng (Thụy Bà Công chúa không có con). Rồi ông chống lại triều đình, ra hịch kêu gọi các anh hùng hào kiệt làm thành đội quân làm loạn ở Đại Giang. Lúc đó, các địa phương như: Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang, Thọ Lão, Châu Trần, Nam Trấn, Hải Dương ông đều chiếm giữ làm đất thang mộc. Tự xưng là Càn Vương (vì trước kia vua Thái Tông đã tôn ông làm Càn Vương, nên nhân dịp này mà xưng như vậy). Ông cho xây dựng các đồn sở, cung quán tại các địa phương (tức các trại Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang, Thọ Lão, Châu Trần, và các nơi khác như: Bố Chính, Nam Định, Lạng Sơn).
Lại nói: Lúc ông xây dựng cung sở tại đất Thọ Lão (ông cho đào 5 giếng nước, mở chợ ở trước cung sở, sau là một cái ao sâu). Ông thường qua lại nuôi dưỡng binh lương ở nơi đây. Ông là người nhân từ đức độ, nên nhân dân hết sức yêu mến khâm phục. Lúc đó (nhân dân Thọ Lão, Châu Trần theo ông hơn 300 người), không người nào không mến mộ theo ông đi chiến trận. Khi đó ở đất Châu Trần có một miếu thờ Quy thần và Sơn Điểu thần (tức hai vị danh tướng của Hùng Duệ Vương đi theo Sơn Thánh đánh quân nhà Thục). Ông đóng cung sở ở đó (tức đất xã Thọ Lão, nơi ông dựng cung điện và đưa Lã Thái hậu về ở đó). Khi cất quân đi chinh phạt các nơi đều hội binh ở đền này để cầu đảo, mong ngài âm phù, theo đi chinh phạt phủ hộ. Cho quân đội được toàn thắng sau sẽ hậu thưởng. Từ đó tiến quân đi đánh nhau ở đâu cũng thường thấy như có 2 vị đi theo ở hai bên tả hữu, hay quân ở nơi nào thường mộng thấy hai vị mang quân mã đến tụ hội, thân thiết chẳng khác nào anh em ruột thịt. Khi đi chinh phạt nơi đâu nhân dân ở nơi đó cầu khấn với hai vị tất sẽ được toàn thắng. Cho nên ông thường nói với bầy tôi rằng: “Ta có thiên thần bảo trợ, còn sợ gì nữa?”.
Lúc đó, ông truyền cho nhân dân phải tu sửa lại đền vũ thờ hai vị (tức đền thờ quy thần Điểu Sơn) lại sai thợ đúc tượng Phật Bảo Lâm (tức chùa Ngọc Lâm. Sai dân Thọ Lão và Châu Trần cùng xây dựng). Mọi việc hoàn tất tốt đẹp, bèn cho ban phát của cải, nuôi dưỡng người già yếu. Nhân dân trên dưới đều được thấm nhuần ơn trạch của ông tận xương tủy, tất cả đều tôn xưng ông như cha mẹ đã sinh ra, đức độ rộng tựa sông biển. Từ đó uy danh của ông chấn động, nên Trần Thủ Độ cử các đình thần, tướng lĩnh đi đánh dẹp, nhưng tất cả đều không dám đem quân đi đánh ông. Trải qua 4-5 năm cát cứ một phương chống lại triều đình. Nhà vua bèn giá trốn tới chùa Yên Hoa, núi Yên Tử đầu phật đi tu, để sửa lại lỗi lầm phi luân vô đạo của mình. Lúc đó có một vị thiền sư can ngăn vua rằng: “Bệ hạ muốn bỏ đi tu để nhàn du nơi núi rừng thiền mà sửa tâm luyện tính, không vướng bụi trần ư? Hãy đến ngày Hoàng tử trưởng thành, trao lại ngôi vị sau đó đi tu cũng chưa muộn!”. Nhà vua nghe theo, ngày hôm sau theo xa giá cùng bách quan trở về kinh đô. Thế rồi Trần Thủ Độ đem quân đến đánh nhau với Càn Vương (tức Trần Liễu) tại Đại Giang. Nhà vua nghe tin ra lệnh cho long thuyền ngự xuống sông Đại Giang, cùng Trần Thủ Độ dừng thuyền ngự tại bến đầu sông. Được 1 tháng, nhà vua mật sai sứ thần đem tờ hịch cáo dụ Càn Vương quy hàng, nhưng không cho Trần Thủ Độ biết việc này. Đã mấy lần sứ thần đi lại mà Càn Vương không chịu gặp mặt. Một hôm Càn Vương nằm nghỉ ở Chính điện cung (tức cung Thọ Lão) để ngủ thì bỗng thấy vị Quy thần và Điểu Sơn (ông từ khi dựng cung sở ở xã Thọ Lão thường đi chinh phạt, tụ hội ở đền Châu Trần mật cầu, thường thấy hai vị quan nhân xưng tên, xưng tước như vậy) nói rằng: “Cơ đồ nhà Trần vốn là do hôn nhân mà có, luân thường hỗn tạp cũng là do ý của trời, chứ đâu phải do người gây ra? Chớ có vì một người đàn bà làm nguy hại đến xã tắc tổ tông, bỏ mặc quốc gia không thương xót. Vua do trời định mà vua lại là anh em ruột thịt với ngài. Một nước có hai vua, môi răng lại không hoà hợp thì quả là không nên ! không nên !” Nói xong thì Vương tỉnh dậy, biết đó là giấc mơ thôi. Ngẫm nghĩ trong giấc mộng hai vị thần đã khuyên can ông nên quy hàng, chớ nên phóng túng làm loạn. Vả lại hai con đang giữ chức vụ trong triều đình (ông có hai con trai là Hưng Vương huý là Tuấn và An Thành Vương). Nay chỉ vì hiềm khích nhỏ mà bỏ việc đại nghĩa cương thường. Mọi người cùng chung huyết mạch, là anh, là con mà sinh sự chém giết lẫn nhau, để cướp ngôi thì tất sẽ chê cười, chẳng chịu thần phục. Vả lại, Quy thần và Điểu Sơn tuy âm dương cách biệt huyền diệu, nhưng sớm chiều vẫn phò tá. Vậy đã ứng báo trước sau, tất là do mệnh trời sai hai vị đến báo. Thế thì ta phải bãi binh, bỏ giáp bó giáo về triều để yên xã tắc miếu đường. Nói xong ông thông báo với chúng thần mọi việc như vậy. Và truyền làm lễ cầu khấn hai vị quan nhân, mật khấn rằng: “Tuy rằng âm dương hai đường, nhưng cũng như anh em ruột thịt, xin gang tấc bên nhau cùng ta làm tả hữu, chớ có rời ra một bước”. Khấn xong bỗng trời đất tối sầm, gió bão nổi lên, làm cho cờ xí cắm hai bên bay bổng lên cùng hướng về kinh đô như làm lễ. Việc xong, bèn truyền cho tướng sĩ giải hồi về quê. Để Lã Hậu sống ở đây (tức cung Lã Hậu), cung này giao cho nhân dân cùng trông nom (tức trại Châu Trần và Thọ Lão) với hơn 100 gia thần thủ túc bảo vệ cung sở. Nhân dân ở đây đều vâng mệnh. Giao việc xong, Trần Liễu và gia thần độ 7,8 người xuống dòng Đại Giang, bí mật đi trên một thuyền câu nhỏ, giả làm thuyền câu cá, vượt qua đồn binh của Trần Thủ Độ, tiến tới thuyền của nhà vua đang ngự. Anh em gặp mặt nhau mừng vui ngậm ngùi. Trần Thủ Độ nghe tin, lập tức cầm kiếm thẳng tới thuyền rồng quát rằng: “Giặc Liễu kia !” rồi xông vào chém. Vua lấy thân che cho Trần Liễu và bảo: “Càn Vương đã ra hàng, không được chém giết”. Trần Thủ Độ tức giận nói: “Anh em, vua tôi đã hòa thuận thì còn làm gì được nữa !”. Bèn ném kiếm xuống sông, bãi binh về đồn. Nhà vua cùng với Tướng quốc Trần Thủ Độ lên xa giá về kinh đô. Lại ra sắc phong tôn Trần Liễu làm Hiển Hoàng. Trần Liễu không nhận mà tâu rằng: “Việc xảy ra quá lỗi lầm với triều đình. Nay đội ơn miễn tội, đối với triều đình đất nước há không hổ thẹn với lương tâm hay sao, mà lại còn nhận chức tước. Chỉ xin được trở về cung cấp để an hưởng tuổi già, tu theo đạo phật để vớt lại nhân duyên, đền đáp lại ân đức lớn của nhà vua, khi quốc gia lâm sự đã có hai con (ông Tuấn và ông Thành) thay là đủ”. Nhà vua cố nài phong chức cho ông mà ông không chịu nhận, đành phải đồng ý và ban cho ông hơn 1 nghìn cân vàng. Lại cho những nơi ông đã đóng quân ngụ lộc làm đất thang mộc (Đó là các xã Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang, Thọ Lão, trại Châu Trần và đất Bố Chính, Nam Định, Lạng Sơn làm đất thang mộc).
Lại nói: Càn Vương (Trần Liễu) từ lúc trở về sống ở cung ấp thường đi nhàn du trong thiên hạ, ngắm cảnh núi sông, giáo hóa dân chúng (lúc này ông về sống với dân ở cung Thọ Lão và Thái Hậu) xây dựng mỹ tục, tối ngày vui chơi yên ấm với các cổ tướng danh thần (tức Quy thần và Điển Sơn - danh tướng của Hùng Duệ Vương thờ cúng ở trại Châu Trần). Tuy âm dương khác biệt nhưng thật tương ứng tương đồng, biến hiện luôn luôn. Lúc này Vương đã 58 tuổi. Lã Hậu đã hơn 40 tuổi. Một hôm vào ngày 10 tháng 11, Vương cùng Lã Hậu ban phát của cải, giao phó cung sở cho nhân dân (tức dân trại Châu Trần và xã Thọ Lão) truyền làm lễ trai giới, rồi vào chùa Bảo Lâm dốc lòng tu thiền, tu thân sửa tính vui với đạo Phật mà thoát tục quy y, tránh vướng bụi trần. Vương tu trì cảnh thiền được 4, 5 năm. Nhà vua thường ngự giá đến thăm hỏi, nhân dân đều được thấm nhuần đức độ của Càn Vương (tức Trần Liễu). Những nghi thức cao sang đều bỏ cả, những thứ vua ban đều giao cho dân sở tại. Sau này khi Vương cùng Lã Hậu xa giá trở về Yên Bang. Nhân dân ở đây làm lễ chia tay, nhân lúc dự tiệc, Vương cho gọi các bậc phụ lão và nhân dân đến bảo rằng: “Ta với nhân dân ở đây ân tình sâu nặng. Vì hận mà phải phản bội triều đình quốc gia, mưu đồ làm loạn, dấy binh, đều cùng nhân dân trước sau như một, thầy trò chí tình, ân nghĩa khắc cốt ghi xương, chẳng phải tình nghĩa chốc lát như người qua đường. Nay ta có cung sở đóng ở đây làm nơi trú ngụ với dân, lại giao cho dân (tức trại Châu Trần và xã Thọ Lão cùng dựng một cung sở) sau này làm nơi thờ cúng vợ chồng ta. Còn như ở trại Châu Trần có đền thờ hai vị danh tướng đời Hùng Vương ta cho sửa chữa để lưu lại chút thâm tình của hai vị có nhiều công lao linh ứng, thường phù trợ cho ta như quần thần tả hữu, ví như môi răng, chân tay vậy. Thề cùng sông núi không quên. Cũng giao phó cho nhân dân (Tức trại Châu Trần). Sau này thờ cúng ta cùng một nơi.” Lại giao một tờ cam kết cho dân ở đây làm Hộ nhi(1) để muôn đời hương hoả thờ cúng. Lúc đó các vị phụ lão và nhân dân đều vui mừng lạy tạ nhận mệnh. Tiệc tan, Vương bèn ngâm bài thơ rằng:
Nhất đường tụ hội số tinh thần
Vạn cổ hương yên tại xã dân.
Tuy thị túy trung hoan ẩm ngữ
Tình lưu Thọ Lão ức niên xuân.
Dịch là:
Một nhà hội ngộ thật tình thân,
Muôn đời hương lửa gửi xã nhân.
Tuy giữa lúc say, lời nói ấy,
Tình lưu Thọ Lão đến muôn xuân.
Yến tiệc xong, ông lại tới đền hai vị thần và ngâm bài thơ rằng:
Tình tuy lưỡng lộ nghĩa tương thông,
Thệ dư càn khôn nhất tháp đồng.
Mỗi phạn bất vong quân dữ ngã,
Nhất đường danh tướng dữ vương công.
Dịch là:
Âm dương đôi ngả, nghĩa mặn mà,
Thế với càn khôn chẳng cách xa.
Hôm sớm chẳng quên tình sâu nặng,
Danh tướng, vương công vốn một nhà
Ngâm thơ xong, bỗng thấy gió mây nổi lên, đền thờ tối sầm lại, nghe như trên gác thượng trong đền văng vẳng tiếng ngâm rằng:
Cầu chi tất ứng cảm giai thông,
Nhất nhật quân sư khởi thủ đồng.
Nguyệt đối trường thiên song nhật nguyệt,
Ức niên như tại ký kỳ công.
Dịch là:
Đảo cầu vì vậy phải cảm thông,
Chút tình theo giúp dám sánh cùng.
Mong có trời cao và nhật nguyệt,
Vạn năm còn đó khắc chiến công.
Tiếng ngâm vừa dứt, được một lúc thì gió mưa ngừng hẳn, trời đất sáng bừng lên. Vương cười mà nói rằng: “Quả là anh em ý tình hiển linh như thế đó”. Vương bèn lạy tạ hai vị thần lên xa giá trở về. Về đến trang Thanh Hóa, bái từ ở đền Thuỷ thần (Hùng Lạc Long Quân sinh ra 1 bọc trăm trứng, nở ra 100 người con trai đều là anh hùng. Lạc Long Quân chia đất phong cho các con, chia 50 người con theo cha xuống biển làm Thủy thần. 50 người con theo mẹ lên rừng làm Sơn thần. Ở tổng Thọ Lão cùng thờ phụng cũng là con trai của Lạc Long Quân. Thủy thần có 25 người con ở bộ khác, còn bộ chi thứ có ghi sự tích ở sau).
Lại nói: Vương sau khi bái lạy mọi việc đã xong lên xe về ở cung Yên Bang được 3,4 năm, cho đến ngày mùng 1 tháng giêng năm Ất Mão 4 thì nước sông Đại Giang dâng to tràn ra khắp nơi, sấm chớp nổi lên đùng đùng liền trong 03 ngày không dứt. Cho đến ngày mồng 4 thì Càn Vương (tức Trần Liễu) đang nằm nghỉ ở chính cung, bỗng thấy một dải mây đỏ từ trên trời bay xuống, giáng vào chính tẩm trong chính cung, được một lúc sau, Vương không bệnh mà tự nhiên hoá đi. Hai ông Tuấn Công và Thành Công (tức con của Trần Liễu) làm biểu dâng lên, nhà vua nghe tin đích thân ngự giá tới cung làm lễ, trăm quan trong triều đến làm lễ an táng ông ở nơi này (tức Yên Bang). Ngày hôm đó vua truyền cho nhân dân các nơi là đất Thang mộc của Vương, tất cả đều dựng đền thờ phụng. Ngày 10 tháng 7 năm đó, Lã Thái hậu bỗng thấy đau đầu, một lúc sau cũng không bệnh mà mất tại chính cung. Nhân dân tâu lên hoàng đế. Nhà vua ra lệnh cho bách quan làm lễ an táng tại nơi đây. Xong việc lại truyền cho nhân dân các nơi phụng thờ bà.
- Phong: Quốc vương thiên tử Đại vương.
- Phong: Lã thị Thái nương Hoàng phi phu nhân.
Các nơi như: Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang đều là nơi thang ấp. Còn đất Phù Hoa, Bố Chính, Lạng Sơn, Ái Châu, Tức Mặc, Kinh Bắc, Thọ Lão, Châu Trần, Nam Định làm làng hộ nhi. Cộng tất cả là 31 xã, trang làm chính sở.
Lại nói: Thời gian ấy nhân dân các nơi cùng nhau về kinh đô để nghênh đón sắc chỉ, thần hiệu về các đền để phụng thờ. Trong khi đón rước, thì trời đất tối tăm mất 10 ngày, tựa như đêm vậy. Sấm chớp đùng đùng, gió mưa không ngớt, trên các xa giá đón rước sắc chỉ thần hiệu, có khi thấy chim hồng đậu trên nóc xe. Có khi thấy những con rắn trắng nằm trong các xe rước. Nhân dân các nơi đều hết sức kinh sợ. Khi xa giá của Thọ Lão đi đón sắc chỉ thần hiệu về đến nửa đường thì trong đền thờ đã nghe thấy tiếng ong ong, hàng trăm nghìn con ong bay vào trong đều tụ họp hệt như tiếng chiêng trống, voi ngựa binh sĩ nghênh đón về đến đền thì mưa to gió lớn nổi lên, cả ngôi đền sáng rực, tiếng ong ong đều biến mất. Nhân dân kinh sợ vô cùng. Dân Thọ Lão và Châu Trần hôm sau (ngày 08, tháng giêng) cùng làm lễ đón mừng, xong việc thì trời đã muộn,chức sắc trại Chân Trâu làm lễ trở về nơi thờ hai vị tướng (đời Hùng Vương) thì nghe tiếng binh mã ở bên trong rất đông. Có tiếng nói rằng: “Vua ta nay đã về cung. Các tướng sĩ hãy đưa ta về nơi nhiệm sở của ta”. Nhân dân dừng chân nấp xem, một lúc bỗng thấy tiếng chửi mắng ở trong đầm nước trước cửa đền, (Lúc đó trại Châu Trần dựng thờ trước một cái đầm lớn vì minh đường ở bên trái cung có một số hố nước sâu), nhân dân chăm chú nhìn, bỗng thấy hai chiếc thuyền rồng nổi trên mặt nước, tả hữu hai bên có đến hàng trăm bó đuốc sáng rực. Lại nghe trong thuyền có tiếng nói khiển trách: “Vua ta đã về đến cung sở. Nhân dân ngu dốt sao không về rước ta về!”. Nói xong thuyền đuốc biến mất. Những người chứng kiến cảnh tượng này đều kinh sợ, trở về nhà bỗng nhiên mắc bệnh tưởng rằng đêm qua đã nhìn thấy những sự kiện trên. Họ bèn họp nhau lại đem xa giá vào trong đền ( khi đó trại Thọ Lão, Châu Trần cũng thờ cúng ở một cung). Kính ghi chép thần hiệu, sắc chỉ đặt vào xe đón về hai đền, tiến vào trước sân thì bỗng thấy từ trên trời bay xuống một con chim sắc trắng, thân dài hơn 1 thước, mỏ cắp thần hiệu và sắc chỉ bay vào trong đền, đặt vào gác trên, rồi tự nhiên bay thẳng lên trời đi mất. Nhân dân vô cùng kinh sợ làm lễ yên vị. Xong việc từ đó nhân dân ở đây sinh sống rất phong lưu yên ổn, đền thờ huy hoàng hương khói thờ cúng mãi mãi. Sau này Tiên sinh Ngọc Liên triều Lê có làm bài thơ rằng:
Tự cổ tằng lai vị cơ nhân,
Âm dương hà chí đắc tương thâm.
Tương phùng tương hội kim nhi cổ,
Từ vũ huy hoàng cựu chí tân.
Dịch là:
Tự cổ tới nay được mấy người,
Âm dương khăng khít tựa răng môi.
Thờ phụng hưởng chung còn mãi mãi,
Huy hoàng đền miếu rạng đất trời.
Lại nói: Vào tháng 2 năm Đinh Tỵ, giặc Mông Cổ đem 30 vạn tướng hùng binh xa giá tiến thẳng vào nước ta, chúng chia làm hai đạo quân thủy, lục cùng tiến. Đạo quân bộ 20 vạn quân chiếm đóng 16 động, châu, chia quân ra làm 3 cánh. Một cánh quân tiến thẳng tới sông Thao, một cánh quân tiến thẳng tới sông Lô, một cánh quân tiến thẳng tới thành Thăng Long. Đạo quân thủy từ cửa ải tiến thẳng tới sông Bạch Đằng, sông Hát Giang. Thư cấp báo về triều một ngày 5 lần. Nhà vua vô cùng lo lắng. Lúc bấy giờ, Tuấn Công, Thành Công đều đã phương trưởng. Họ tài giỏi mưu trí, dũng lược hơn người. Triều đình đều khen ngợi, nên được nhà vua trao cho chức Hành khiển theo Vệ tướng quân Trần Khuê trấn thủ phòng ngự biên cương phía Bắc. Quân Nguyên tiến vào đất Vân Nam được 2 năm, mà không dám vào xâm lược nước ta. Nay quân Mông Cổ đến xâm lược, nhà vua trao lại cho Tuấn Công làm Hưng Đạo Đại vương tiết chế các doanh thủy, bộ. Trao cho Thành Công chức An Vương Phó lĩnh tả tướng quân. Trao cho Khải Công làm Dực Vệ tướng quân. Các tướng đều nhận lệnh của Hưng Vương tiết chế, đem 10 vạn quan chia làm các đạo quân dựng đồn doanh, từ Tam Đới đến Kinh Bắc sông Nguyệt Đức, sông Bạch Đằng, sông Lục Đầu, các bờ sông, các đường bộ đều dựng đồn để chờ đánh đạo quân thuỷ của giặc Mông Cổ.
Nhà vua thân chinh đi đốc chiến điều binh ở sông Lô, sông Thao.
Lại nói: Lúc đó 3 ông (Tuấn Công, Thành Công và Quang Khải) tiến binh đến phủ Tam Đới, huyện Yên Lạc. Một hôm tiến quân đến hai trang Đồng Vệ và Bích Đại thì đóng quân lại vài ngày. Nhân dân địa phương ra làm lễ chúc mừng, xin được đi theo đánh giặc, được hơn 100 người. Sau đó 3 ông lại tiến quân đến đất Lạc Trung xây dựng ở đây 1 đồn trú nhỏ bên bờ sông. Dân ở trang Lạc Trung đều theo Hưng Vương làm thần tử, ông đồng ý cho theo. Ông đóng lại đây 10 ngày, đến ngày mùng 1 tháng 3 (tức ngày mùng 8) thì tiến quân đến xã Thọ Lão, đã thấy một đội quân Mông Cổ đến cướp bóc dân lành, cướp đoạt của cải. Ba ông đến đây đánh nhau một trận chém được 10 đầu giặc, quân Mông Cổ vứt tất cả của cải cướp được mà bỏ chạy. Dân chúng ở đây tẩu tán đi nơi khác cả, ba ông chiêu dụ dân về. Ngày hôm sau (ngày 10 tháng 3) truyền cho nhân dân làm lễ bái yết ở đền thờ Càn Vương và Thái hậu (tức đền thờ cha mẹ, gia tiên của Tuấn Công và Thành Công ở xã Thọ Lão). Ngầm xin âm phù diệt giặc. Lễ xong dựng thêm hai đồn. Một đồn ở xã Thọ Lão trước xứ chợ. Giao cho Thành Công, Khải Công hai tướng cố thủ ở đây chống giặc Mông Cổ. Một đồn dựng ở trại Châu Trần thì Hưng Vương tiết chế đóng ở đó. Lúc này dân Thọ Lão và Châu Trần theo 3 ông làm thần tử có hơn 300 người, họ không dám ở nhà sợ quân Mông Cổ quay lại phục thù, nên đều theo 3 ông chinh phạt. Một hôm Hưng Vương cho gọi nhân dân phụ lão đến nói rằng: “Dân ở đây vốn là đất thang mộc của gia tiên ta. Nay đến ta là con, nghĩa tình sâu nặng muôn đời. Cho phép dân làm đồn sở của ta, lại miễn trừ mọi sưu dịch. Cho dân xã Thọ Lão làm gia thần. Và sở tại của ta ở Châu Trần”. Nhân dân đều vâng mệnh. Ba ông trú quân ở đây được 10 ngày để lập mưu đánh giặc Mông Cổ. Một đêm Hưng Vương nằm nghỉ ở đồn chính (tức đồn Châu Trần), đang ngủ mơ màng bỗng thấy Càn Vương ngự trước chính diện cửa đền, hai bên tả hữu có trăm quan ngồi hầu (tức cung đền Thọ Lão). Ngài gọi Hưng Vương lại bảo rằng: “Quân Mông Cổ đang tung hoành ở sông Thao, mà quân nhà vua đã thua chạy rút về sông Lô không dám đốc quân ra trận để chờ tướng quân. Đến ngày mai quân Mông Cổ tiến đến đồn sở của quân ta, phải cấp tốc chia quân ra ứng chiến, lập kế mà đánh”. Hưng Đạo bèn cúi đầu lễ tạ, xin quân ứng chiến để giúp đỡ thêm. Càn Vương bèn sai hai vị tướng quân là Quy Thần và Điểu Sơn đem quân theo giúp đánh giặc. Ngài định làm lễ tạ thì bỗng thấy tướng Lê Phủ ở đồn Phong Châu sai người đem hịch cấp tốc đến báo: “Ngày mai có đạo quân thuỷ của Mông Cổ ở sông Thao tiến về Tam Điệp, hội quân ở đất Nhật Chiêu, hợp sức tiến công quân ta”. Hưng Đạo nghe cấp báo bỗng tỉnh giấc, biết đó là mộng báo của cha. Đêm đã sang nửa canh tư, Hưng Đạo cấp tốc sai gia thần truyền hịch báo với Thành Công và Khải Công cùng các đồn binh từ sông Nguyệt Đức đến sông Bạch Đằng, sông Lục Đầu, sông Hát Giang. Sai các đạo quân chia nhau đi mai phục hai bên tả hữu các bờ sông sẵn sàng ứng chiến. Sáng sớm hôm sau cắt cử Tỳ tướng phòng thủ hai đồn (tức Thọ Lão và Châu Trần). Rồi ba ông cất quân đi đánh giặc Mông Cổ, thì đã thấy quân chúng rầm rộ, chiêng trống ầm trời Hưng Vương ra lệnh cho Thành Công dẫn 500 quân tiên phong giáp công giả vờ thua chạy, quân Mông Cổ tiến quân đến đồn Vân Thuỷ thì quân mai phục bốn phía xông ra đánh úp. Còn nhà vua và 7 tướng ở Đinh Sơn từ sông Lô, Sơn Dương, Tam Dương tiến quân theo sau tiếp ứng. Đánh một trận lớn quân Mông Cổ bị thua chạy, quân ta đuổi tới thành Thăng Long, giặc chạy về sông Bạch Đằng. Lúc ấy Khải Công đốc lĩnh quân mai phục các đồn binh xuất quân, hai ông Hưng Vương và Quang Khải dẫn quân giáp chiến, chém được hơn 1000 tên giặc dưới sông Lục Đầu, máu đỏ đầy sông. Quân Mông Cổ thua chạy toán loạn tới Đông Bộ Đầu. Nhà vua lại đốc các tướng truy đuổi đến cùng, đánh nhau một trận huyết chiến, chém được đầu Tỳ tướng của giặc và vô số quân sĩ, bắt sống hơn 3000 tên. Những tên còn lại trốn về Quy Hóa. Hưng Đạo Vương lại sức cho trại chủ là A Bổng đón đánh giặc thua chạy về phương Bắc. Thế là dẹp yên quân Mông cổ xâm lược. Nhà vua cho triệu hồi các tướng lĩnh trở về kinh đô, khao thưởng quân sĩ, khen thưởng ba quân, mở yến tiệc mừng công phong thưởng.
- Phong Tuấn Công là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
- Phong Thành Công là Trí dũng Uy Minh Đại Vương (Thành công là con thứ của Càn Vương và bà Cung phi thứ 3. Khi bà mơ thấy bắt được 1 con chim khổng tước, thì đến giờ ngọ ngày mùng 5 tháng 5 sinh ra ông, năm Nhâm Ngọ).
- Phong Khải Công là Chiêu Minh Đại Vương (Khải Công là con thứ của vua Thái Tông, là em vua Thánh Tông. Sinh ngày 10 tháng giêng năm Giáp Dần, tên húy là Khải).
Từ đó vua tôi hợp đức, thiên hạ thái bình, quốc gia vô sự. Nhà vua lại gia thưởng cho các địa phương nơi ba ông đã lập đồn binh chống giặc. Và cho phép ba ông được lấy những miền đất đó làm nơi hưởng lộc, sau này làm nơi thờ cúng để biểu dương danh tiếng của công thần, lưu lại cho đời sau.
Dẹp xong giặc, Hưng Đạo làm tấu biểu dâng lên: Trong thời gian đánh quân Mông Cổ, có dựng đồn sở ở đất Thọ Lão và Châu Trần, có mơ thấy Càn Vương sai hai tướng công đi theo âm phù đánh giặc. Nhà vua bèn gia phong mỹ tự, sai quan triều đình mang sắc chỉ về để dân thờ cúng.
- Phong: Quốc Vương thiên tử, Hộ quốc đại vương
- Phong: Lã thị Thái phi Hoàng Hậu.
- Phong: Trinh Chính hùng kế đại vương
- Phong: Duệ thông trí minh đại vương
Ngày hôm đó, sai sứ giả đem sắc chỉ về cho dân phụng sự. Ba ngài Tuấn Công, Khải Công, Thành Công đều ở đó, xin được theo về bái yết. Ngày hôm sau (ngày 10 tháng 3). Cả ba ông theo xa giá trở về đồn sở, tới nơi nhân dân làm lễ chúc mừng. Hưng Đạo Vương và hai ngài làm lễ bái yết ở hai cung (Thọ Lão và Châu Trần) xin mở sắc chúc mừng. Việc xong, lại truyền sửa sang đền vũ. Hai ngài giao phó hai cung sở tại giữ gìn và hương đèn bốn mùa không dứt. Vạn đời lưu truyền mãi mãi.
Lại nói: Sau khi tu sửa xong, ba ông lại quay xa giá về triều. Lúc đó là mùa xuân tháng 2 Thái Tông truyền ngôi cho Hoàng Thái tử Hoảng, hiệu Thánh Tông Hoàng đế, tôn Thái Tông làm Thái thượng Hoàng. Nhà vua phong cho Hưng Vương là Quốc công thống lĩnh toàn quân. Khải Công là Thái uý, Thành công là Thái Bảo cùng với Thượng Hoàng đi đánh giặc Man Di ở động Ba La. Đánh xong giặc, quân ta trở về kinh đô. Tháng 4 mùa hè thì Thượng hoàng Trần Thái Tông mất. Trải đến đời vua Trần Nhân Tông lên ngôi (tên húy là Khâm, tức con trưởng của vua Thánh Tông, ở ngôi 14 năm). Khi đó vua Nguyên sai Thái tử là Trấn Nam Vương Thoát Hoan, cùng các tướng Bình Chương sự A Thích và A Lý Hải Nha đem trăm vạn tinh binh đến cướp nước ta. Đêm hôm đó sao Thái Bạch mọc giữa trời, nhà vua nghe quân thần Trần Hưng Đạo và Khải Công tâu rằng: “Quân phương Bắc đến xâm phạm nước ta, chỉ trong sớm tối mai sẽ đến đây”. Vừa trình tâu xong, bỗng thấy quan phiên trấn gửi thư cấp cáo. Hoàng thượng (tức vua Thánh Tông) cho chiêu tập các vị bô lão trong thiên hạ mở hội nghị Diên Hồng bàn mưu đánh giặc. Vạn người đồng thanh hô to: “Đánh” Hoàng thượng bèn phong thêm cho Khải công làm Thượng tướng Thái sư, Hưng Đạo Vương làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh đại quân. Sai Thành công là Thống lĩnh đạo quân thủy, chỉ huy 50 vạn quân (các tướng khác có ghi sự tích riêng). Hưng Đạo Vương, Khải công cho quân tiến tới các đạo: Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm đón đánh giặc Nguyên. Lúc này, quân Nguyên chia quân làm các đạo quân tiến tới Thủy Châu, Lộc Châu. Quan quân tướng sĩ ta chặn chúng ở Nhạc Ôn, Nhạc Cấp. Quân Nguyên đánh ra, quân ta thua chạy, nên chúng thừa thắng tiến tới thẳng bến Vạn Kiếp, bỗng thấy Thành công ra nghênh chiến, quân giặc áp tới đánh quân ta, Thành công chưa kịp dàn quân nên đành nhảy xuống sông tự tử (đó là ngày Thành công hóa mùng 9/11). Nhà vua nghe tin quân Nguyên đã vào đến Kinh sư, quân ta thua chạy, nên phải dời kinh thành lên ngự trên 1 chiếc thuyền nhỏ đi lánh nạn ra Hải Đông. Nhưng Hưng Đạo Vương và Khải công tâu rằng: “Đất nước an nguy đều gửi gắm ở Lão thần này, quân Nguyên tuy có trăm vạn tinh binh, nhưng thần cho rằng chỉ như đốt cháy chiếc lông chim mà thôi”. Nhà vua nghe lời nói, trong dạ thấy yên tâm hơn, bèn làm bài thơ rằng:
Quốc gia ninh gia tại ư quân
Xã tắc duy tồn tại lão thần
Chiến sĩ kinh dân đồ quốc sự
Bất từ nan giả báo quân ân
Dịch là:
Quốc gia yên ổn ở vua tài
Nước còn, nhờ có lão thần đây
Chiến sĩ xả thân lo việc nước
Chẳng từ gian khổ báo ơn dày.
Lại nói: Hưng Vương, Khải công nghe tin quân Nguyên đã chiếm được đồn Vạn Kiếp. Thành công thua trận đã hy sinh. Quân Nguyên thế đang mạnh lại hội ở Vạn Kiếp, nên Hưng Vương cho truyền hịch đến các đạo binh tập trung ở Vạn Kiếp để chống giặc. Hưng Vương Tiết chế cùng Khải Công tiến quân thẳng tới đồn Vạn Kiếp giáp công với quân Nguyên một trận. Quân Nguyên thua to, chạy tán loạn. Hưng Vương truyền chia quân sĩ ra Phả Lại, Chí Linh cố thủ. Trước đó Hưng Vương cho rằng cửa biển An Bang sẽ là đường quân Nguyên rút chạy, nên đã ra lệnh cho quân dân đóng cọc xuống lòng sông Bạch Đằng từ trước rồi cho cỏ rác lên trên. Lại ra lệnh cho Trương Văn Hổ phục kích ở cửa biển Tam Giang, cùng với Nguyễn Tiến Lĩnh Thánh dực dũng nghĩa quân giữ cố thủ đồn binh để đánh đạo quân thủy của Ô Mã Nhi. Lúc đó Hưng Đạo Vương với Khải Công đánh trận lớn ở chính đồn Vạn Kiếp. Quân Nguyên thua chạy tới sông Bạch Đằng. Hưng Vương và Khải công đuổi giặc đến sông Bạch Đằng thì Hưng Vương cho quân bộ quay lại đánh quân thủy. Thừa lúc đó thủy triều dâng lên, cho tốp quân nhỏ ra khiêu chiến, rồi giả vờ thua chạy. Ô Mã Nhi dốc toàn quân đuổi theo quân ta, Vào đến chỗ nước sâu. Đến khi nước thuỷ triều rút, thuyền của giặc bị mắc vào cọc gỗ thì Trương Văn Hổ, Nguyễn Tiến phát hỏa tấn công. Quân giặc đại bại. Ô Mã Nhi vội vã thu lại những chiếc thuyền còn lại để chạy trốn, nhưng lúc này nước đã rút, nên thuyền lớn ở trên cọc gỗ nhọn đều nghiêng úp xuống sông. Quân Nguyên chết đuối nhiều không sao kể xiết, nước sông đỏ máu thù. Vì thế mà bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Ấp đem về trước Hoàng thượng. Nhà vua cho Ô Mã Nhi lên thuyền chèo trên sông Bạch Đằng đến cửa Tam Giang bèn chém làm 3 khúc. Từ đó quân Nguyên không dám đến xâm lược nước ta nữa. Trăm quan phụng giá đón nhà vua về kinh thành, mở tiệc lớn khao thưởng quân sĩ. Lại phong cho Hưng Đạo Vương chức Thượng tướng quân kiêm Tri nội ngoại các, thống lĩnh văn võ trăm quan. Lại phong cho Khải công làm Phụ quốc đại tướng quân. Truy phong cho Thành công là Duệ thông trí minh đại vương, truyền cho nhân dân các nơi đón rước sắc chỉ về để dân thờ cúng. Ra lệnh cho các quan làm lễ tế. Lại thưởng tiền, bạc, áo mũ (lúc này các nơi như: Sơn Nam, Giao Thủy, Trung Châu, Hải Dương, Thượng Hồng, Vạn Kiếp, Chí Linh, Thọ Lão đều là nơi thờ cúng).
Lại nói: Hưng Vương sau khi đánh giặc xong trở về, tuổi đã cao (ông 79 tuổi) nên xin với triều đình được trở về Vạn Kiếp dưỡng già. Còn việc triều chính thì để cho con cháu kế nghiệp (ông sinh được 5 con trai, tất cả đều xưng là Đại Vương). Ông cùng với Khải công phụ chính triều đình. Nhà vua đồng ý, ban cho vàng ngọc, lụa là hơn 500 cân, xa giá vua cùng trăm quan đưa tiễn ông về đất Chí Linh. Từ đó ông trở về cung ấp, xây dựng sinh từ, nhàn du sông núi. Một lần vào mùa thu tháng 8 (tức ngày 12) Hưng Vương ngồi chơi ở trong cung, bỗng thấy 1 con rắn vàng dài hơn 1 trượng bò thẳng vào trong cung, trước chính tẩm trong chốc lát thì biến mất. Ngày hôm đó ông liền phát hiện bệnh đau chân. Nhà vua thân hành đến thăm hỏi. Giờ Ngọ ngày 15 bỗng thấy trời đất tối tăm, mua gió nổi lên ầm ầm, cũng là lúc Hưng Vương qua đời. Cùng lúc đó Khải công không bệnh mà mất. Nhà vua ra lệnh cho trăm quan làm lễ an táng hai vị tướng quân (Hưng Vương chôn ở lăng xứ vườn Lạc Trung, trại Vạn Kiếp của ông. Khải công chôn ở xứ Tây hồ đất Thăng Long). Khi hai ông mất đi, đất trời mưa gió tối tăm trong 3 ngày liền. Trên trời có đám mây hồng như hai cái lọng ở phía tây bắc 10 ngày không tan đi.
Lại nói: Một trăm ngày sau, nhà vua làm lễ bao phong mỹ tự, sắc chỉ. Truyền hịch cho các nơi mà các tướng quân đã đóng đồn, trở về Kinh sư đón sắc chỉ về các cung ấp đền thờ cúng. Cùng hưởng lộc nước, thờ cúng ngàn năm, thật là tốt đẹp lắm thay! Lại phong các vị làm Thượng đẳng Phúc thần.
- Phong Khải công: Duệ thính, Thông minh, Trí uy linh Đại Vương (các nơi thờ phụng ông là: Hoan Châu, Hải Đông, Vân Nam, Đà Bắc, Mỹ Lương, An Lập, Thủy Vĩ, Thọ Lão, Tây Hồ).
- Phong: Tuấn công là Dực thiên, Hưng vương Đại vương (các nơi thờ phụng ông là: Cẩm Viên, Đồng Thuật, Bích Đại, Hải Đông, Vân Nam, Lạc Trung, Châu Trần, Hoan Châu, Thuận Hóa, Đông Bộ đầu, Phả Lại, Kinh Bắc, Hải Dương, Vạn Kiếp là nơi thờ cúng chính, quốc gia thờ cúng. Các nơi hành cung thờ cúng ông liệt kê ra đây). Ngày hôm đó nhân dân các nơi đón sắc chỉ trở về cung làm lễ an tế, thờ cúng quanh năm hai kỳ xuân thu các quan triều đình đều đến làm lễ tế. Nước cúng dân cầu rất là linh ứng. Cho nên các triều đại sau đều truy phong mỹ tự. Công lao tên tuổi của các vị còn mãi với non sông đất nước. Thật là tốt đẹp lắm thay !
Lại nói: Khi nhà Trần mất, nhà Hồ cướp ngôi, thiên hạ loạn lạc, thì ở sách Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên có người họ Lê, húy Lợi dấy binh khởi nghĩa Lam Sơn, 3.000 quân hổ lữ tiễu trừ họ Hồ, bình định Ngô nhân (nhà Minh) lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Thuận Thiên (tức Lê Thái Tổ cao Hoàng đế. Sau đổi thành làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên). Rồi truyền đến các đời vua: Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, ra tới xứ Giếng, thấy quân sĩ chia nhau ra về trại Châu Trần, một đạo đi vào lòng Giếng rồi biến mất. Thái úy chợt tỉnh giấc biết đó là mộng báo. Ngày hôm sau truyền làm lễ tạ, rồi triệu dân xã (tức Thọ Lão, Châu Trần) đến mở thần vị của hai đền ra xem, ông sai lấy bút mục ghi chép thần hiệu trước sau đặt vào Long Cục, rồi làm lễ cầu đảo. Ngày hôm đó (ngày 8 tháng 3) dẫn thẳng tiến tới Vân Thủy châu Trường Sa dựng đồn lớn. Hôm đó, Thái Úy lại lập đàn cầu đảo bách thần âm phù tiễu trừ giặc Mạc giúp nước cứu dân, sau này thành công sẽ dâng biểu tấu lên nhà vua bao phong mỹ tự: Thượng đẳng phúc thần, để ngàn năm hương khói thờ cúng. Khấn xong tự nhiên mây đen bốn phía kéo đến ba ngày, trời đất âm u. Thái úy nằm cạnh bên đàn tràng mơ màng mộng thấy bách thần trai gái lũ lượt kéo tới, khí giới đầy đủ, cờ xí bay rợp trời. Họ tiến đến trước mặt ông, người thì quỳ lạy, người thì xưng họ tên khiến ông không sau nhỡ rõ được, thì bỗng nghe một tiếng sấm nổ ở phía nam, ông giật mình tỉnh dậy, thấy mây đen tứ phía đã tan, trời bừng sáng. Ông nghĩ tất là điềm trung hưng vận nước, bèn ra lệnh lấy giấy bút đến viết tên hiệu các thần vào lụa để ghi nhớ sự tích mọi việc đã xảy ra. Ngày hôm đó ra lệnh cho quân lính các đồn sở giết trâu bò làm lễ tạ bách thần, khao thưởng quân sĩ, chọn ngày đi chinh phạt, trời nổi mưa to gió lớn bốn bề, Thái úy tiến quân thẳng tới đồn binh giặc Mạc, đánh nhau một trận ở Phúc Lộc, Phấn Thượng. Máu quân thù chảy thành sông, xương chất cao như núi. Mạc tặc đại bại tháo chạy về phía bờ Bắc. Bình yên giặc Mạc, quân sĩ nghỉ ngơi, Thái úy làm biểu dâng lên báo tin thắng trận, rước xa giá nhà vua trở về kinh đô. Trang Tông lên ngôi, Thái úy lúc này tuổi đã cao, sức yếu, có ý muốn được về nghỉ ngơi, ông tâu với vua xin được trao mọi việc lớn nhỏ của quốc gia cho người con rể là người họ Trịnh. Trang Tông đồng ý. Thái úy còn xa giá trở về Thọ Lão, nhân dân rất phấn khởi đón mừng. Ông thấy thế đất ở đây rất quý, lại nhớ lại mọi chuyện trong mơ lúc đi diệt giặc Mạc: Có 06 vị thần đã tụ binh ở xứ Giếng, chia quân sĩ đi vào lòng Giếng, nên truyền tụng cho dựng một ngôi miếu ở xứ Giếng, chầu về cung đền chính, lấy đầm lớn làm minh đường. Ông truyền cho sửa sang hoàn thành xong, làm lễ tạ rồi lại xa giá trở về, lúc đó họ Trịnh tụ phá, lập quốc kỷ cương, chuyên chế trong ngoài, nối đời làm chúa. Đến đời vua Kính Tông, hiệu là Hồng Đức, sau đổi là Gia Thái, rồi đổi thành Quang Hưng, là con cháu của Anh Tông. Lúc này Mạc tặc đã phải chạy vào Trung Quốc. Nhà Lê bắt đầu lập lại nền chính thống, từ đó thiên hạ, triều chính vô sự. Nhà vua bèn truy phong cho bách thần mỹ tự định công trạng cho công thần. Làm lễ thưởng chức tước, lộc ấp. Ban thêm cho các công thần mãi mãi được hưởng lộc nước. Thật là tốt đẹp nắm thay!
Các đế vương nhà Lê đều gia phong mỹ tự cho các công thần.
- Phong: Quốc vương Thiên tử dực trị hiển ứng hộ quốc đại vương.
- Phong: Lã thị Thái phi Hoàng hậu
- Phong: Trinh chính hùng đoán dương vũ đại vương (trại Thọ Lão phụng thờ 4 vị).
- Phong: Duệ thông trí minh uy linh đại vương (trại Châu Trần thờ riêng 2 vị).
- Phong: Hưng Vương, Đại Vương
- Phong: Trần Quý Đại hải Long Vương Đại Vương
- Phong: Bạch Hạc Điểu Sơn Đại Vương (trại Châu Trần thờ riêng 3 vị)
Ngày giờ sinh, ngày hóa cùng các lễ tiết, chữ húy, sắc phục kính chép ra bên trái:
- Ngày 8 tháng giêng là ngày sinh của Quốc Vương. Các lệ chính như sau: Cỗ chay, thịt lợn đen, xôi, rượu, ca hát, đấu cờ. Các nơi Thọ Lão, Châu Trần cùng làm lễ.
- Ngày 10 tháng 8 là ngày sinh của Hoàng hậu. Lệ có: trâu, bò, lợn, xôi, bánh chay, ca hát Thọ Lão, Châu Trần cùng làm lễ.
- Ngày 10 tháng 3 là ngày sinh của Hưng Vương. Lệ dùng: trâu, bò, lợn, xôi, rượu, ca hát, đấu vật. Trại Châu Trần, làm lễ. Thọ Lão phụ tế.
- Ngày 5 tháng 5 là ngày sinh của Thành công đại vương. Lệ có: thịt lợn đen, gà, rượu, ca hát. Thọ Lão làm lễ.
- Ngày 7 tháng giêng là ngày sinh của Hộ quốc đại vương. Lệ dùng: trâu, bò, lợn, xôi, ca hát, đấu gà chọi.
- Ngày 4 tháng giêng là ngày hóa của Quốc Vương. Lệ dùng: cỗ chay 4 mâm làm lễ trước, sau dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát. Thọ Lão, Châu Trần cùng làm lễ.
- Ngày 15 tháng 8 là ngày 2 vị Hưng Vương và Hộ Quốc cùng hóa. Chính lệ dùng: trâu, bò, bánh chay, bánh chưng, xôi, rượu. Thọ Lão và Châu Trần cùng làm lễ.
- Ngày 9 tháng 11 là ngày Uy linh đại vương hóa.
- Ngày 8 tháng 3 là ngày khánh hạ các đại vương. Lệ dùng: trâu, bò, lợn đen, xôi, rượu, ca hát.
- Ngày 10 tháng 5 là ngày khánh hạ các vị đại vương. Lệ dùng: lợn đen, xôi, rượu, ca hát 1 đêm.
- Ngày 10 tháng 9 làm lễ mừng các vị đại vương trở về: Lễ dùng: trâu, bò, lợn đen, xôi, rượu, ca hát.
- Ngày 8 tháng giêng là ngày mừng đón sắc phong. Lễ dùng: trâu, bò, lợn đen, xôi, rượu, ca hát một đêm.
- Ngày 10 tháng 11 là ngày mừng Quốc vương và Hoàng hậu làm lễ ở chùa Bảo Lâm. Lễ dùng: 4 mâm cỗ chay. Mỗi mâm gồm: 100 tiền gạo, 20 đấu mật, bánh đường, bánh ngũ sắc, bánh lam vuông, bánh lam mật, bánh cuốn mật, bánh chay tròn, bánh trà uyển quả, trăm hoa ngũ vị. Trước 1 ngày phải trai giới, tắm rửa, quét dọn đường ấp. Đến giờ Dần ngày 10, dâng 4 mâm cỗ chay làm lễ, hết tuần chay dâng: 4 mâm gà, mỗi mâm có 30 đấu xôi, rượu ngon đặt ở dưới làm lễ, ca hát. Thọ Lão và Châu Trần cùng là lễ.
- Chữ húy nhất thiết cấm đặt tên là: Liễu, Hồng, Thành, Khải, Trí, Quốc, Lã Nương, Tuấn, Hưng Đạo.
- Các mầu cấm dùng không được mặc là: xanh, tía, đỏ, vàng.
Hồng Phúc nguyên niên (1572), ngày tốt đầu xuân.
Lễ bộ Hàn lâm viện Đông các học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn.
Ngày tốt tháng giữa thu năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739). Quản giám bách thần Tri điện Hùng Lĩnh thiếu khanh thần Nguyễn Hiền phụng soạn bản.
Đào Văn Tình Lý trưởng xã Thọ Lão, tổng Thọ Lão (đóng dấu)./.
Chú thích:
(1) Hộ nhi: là dân nơi đó hàng năm phục dịch việc hương khói thờ cúng thần linh, không phải đi phu phen tạp dịch cho nhà nước nữa./.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.624-647)