VI | EN
64. Nguyễn Đình Hội và các bài diễn ca Nôm về dòng họ Nguyễn Nhị Khê (TBHNH 2012)
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.516-525)

NGUYỄN ĐÌNH HỘI VÀ CÁC BÀI DIỄN CA NÔM VỀ

DÒNG HỌ NGUYỄN Ở NHỊ KHÊ

HOÀNG THỊ NGỌ

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Dòng họ Nguyễn Nhị Khê là dòng họ của Nguyễn Phi Khanh, thân sinh ra Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc văn võ song toàn, đại trí, đại nhân vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Một trong những người con của Nguyễn Phi Khanh là Nguyễn Nhữ Soạn đã nhân được phong thực ấp mà tạo lập cơ nghiệp ở vùng đất Thanh Hoa, con cháu đổi ra họ Nguyễn Đình và Nguyễn Đình Hội chính là hậu duệ đời thứ 16. Ông là tác giả của một số bài diễn ca Nôm có giá trị ở giai đoạn bản lề giữa 2 thế kỷ XIX và XX.

Nguyễn Đình Hội 阮 廷 會 (1881-?),hiệu Cẩm Đường, Cẩm Đường Dật Sĩ thuộc đời thứ 16 của dòng Tuy Quốc công Nguyễn Nhữ Soạn. Nguyễn Nhữ Soạn là con thứ 5 của Nguyễn Phi Khanh, em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi. Nguyên quán của họ Nguyễn Đình là ở xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay là huyện Thường Tín, Hà Nội). Sau khi cùng anh là Nguyễn Trãi theo Lê Lợi bình Ngô thắng lợi, Nhữ Soạn được xếp loại "Bình Ngô khai quốc Hiệp mưu công thần", làm quan Xa kỵ tướng quân, được ban quốc tính họ Lê và được gia tặng Thái phó Tuy Quốc công, tước Á Vũ hầu. Theo Đại Việt sử ký toàn thư Nguyễn Nhữ Soạn làm quan Chính sự viện Tham nghị, hàm Tứ phẩm. Ông được ban thực ấp cho chọn tuỳ nơi. Nhân về thăm quê vợ là Nguyễn Thị Chuỷ ở làng Cừ Nột, tổng Tuyên Hoá, phủ Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hoá) thấy nhà hoang, ruộng bỏ rậm do chạy loạn, ông bèn quyết định ở lại chiêu dụ thêm chục người nữa cùng khai phá đất đai, xây dựng thành làng xóm chia thành 4 xứ. Ông cùng Lê Ngân ở làng Mê. Con trai Nguyễn Nhữ Soạn là Nguyễn Nhữ Lương sinh con đặt là Đình Bảng, đổi họ từ Nguyễn Nhữ sang Nguyễn Đình, nối truyền đến đời thứ 16 là Nguyễn Đình Hội.

Theo như phả ghi thì Đình Hội sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trong một bài diễn ca Nôm, Nguyễn Đình Hội đã tự giới thiệu về mình:

Đời truyền thứ mười sáu này,

Cẩm Đường mới đặt hiệu thầy là ta.

Tên kêu Đình Hội vậy mà,

Con ông hiển tổ sinh ra đầu lòng,

Năm Tân Tỵ tháng trung thu,

Nửa đêm giờ Tý ngày mùng tám sinh,

Tình trời vốn bẩm thông minh

Nho y lý số học tinh mọi nghề.

(Nguyễn Đình tộc thế phả giải ca, câu 793-800)

Qua đó, có thể thấy Nguyễn Đình Hội sinh vào ngày mùng 8 tháng 8 năm Tân Tỵ (1881) và là người thông minh, tinh thông nho, y, lý, số. Đến đoạn sau thì thấy rõ Nguyễn Đình Hội đã sống tới quan năm Bảo Đại nguyên niên:

... Mới về năm Bính Dần này

Hiệu vua Bảo Đại trị vì nguyên niên,

Tháng hai đương tiết xuân thiên,

Ta doanh tùng cốc ta viền làng ta

(Nguyễn Đình tộc thế phả giải ca, câu 815-818)

"Vua Bảo Đại nguyên niên" là vào năm Bính Dần 1926. Phần ghi về Nguyễn Đình Hội ở đời thứ 16 trong bản phả bằng chữ Hán cũng xác định rõ ngày tháng năm sinh và những thông tin về Nguyễn Đình Hội như trên: "... huý là Hộ, danh Hội, hiệu Cẩm Đường Dật Sĩ tính tình trung hậu, thuần hoà, ham thích việc thi thư, tinh thông Nho y, lý số, tuy không rạng rỡ hơn đời trước nhưng cũng nổi tiếng ở đương thời". Ngoài ra, cả bản diễn ca và bản chữ Hán đều không ghi cụ thể về công danh sự nghiệp và ngày mất của ông. Trước tác của Nguyễn Đình Hội hiện chỉ còn thấy còn 2 cuốn tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm:

1. Nguyễn Đình tộc gia phả thế hệ tập 阮 廷 族 家譜 世 系 集 bằng chữ Hán, viết tay, ký hiệu VHv.2428.

2. Nguyễn Đình tộc thế phả giải ca 阮 廷 族 世 譜 解 歌 (còn có tên Nguyễn Đình tộc gia phả ca 阮 廷 族 家 譜 歌) bằng Nôm, viết tay, ký hiệu VHv.270.

Cả 2 văn bản trên đều do Trần Văn Phùng sao chép lại và Trần Ngọc Oánh kiểm duyệt năm 1962.

Đáng chú ý là là những bài diễn ca Nôm trong Nguyễn Đình tộc thế phả giải ca 阮 廷 族 世 譜 解 歌.

Bài đầu tiên là Chầu Tổ văn. Bài này gồm 81 câu lục bát, nội dung tóm tắt lịch sử cội nguồn của ông tổ chi họ là Nguyễn Nhữ Soạn. Nguyễn Nhữ Soạn là con của Nguyễn Phi Khanh, là em cùng cha khác mẹ của Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh và cùng cha làm quan nhà Hồ nhưng sự đời dâu bể đổi thay, giặc Ngô đến cướp nước, cha bị bắt, anh em đưa cha đến ải Nam Quan rồi vâng lời cha trở về với hai chữ báo thù. Nhữ Soạn cùng anh là Nguyễn Trãi theo Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn. Anh em đều trổ hết tài năng, trí lực giúp minh chúa đánh giặc. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh thắng lợi, Lê Lợi được tôn lên ngôi cửu trùng, và:

Khao quân thưởng tướng định công,

Ông Trãi đệ nhất được phong công đầu.

Lại phong đấng Tổ cũng cao,

Bình Ngô khai quốc Hiệp mưu công thần.

Tước hầu Á võ thù huân,

Quận công lại tiến tước phần ấp Tuy.

Ân cho tứ tính họ Lê,

Sắc ra tặng Thái phó Tuy Quốc công.

Loại bài văn chầu tổ thường gặp khá nhiều trong các dòng họ lớn, các thần phả, ngọc phả và được dùng trong các dịp tế lễ. Ví dụ như Thiền sư Từ Đạo Hạnh đời Lý có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo dân gian các thế kỷ sau. Riêng ở Hà Tây (nay thuộc Hà Nội đã có tới 9 nơi thờ Từ Đạo Hạnh. Bài văn chầu Đức Thánh Từ được phổ biến là bài diễn Nôm theo thể lục bát dài 180 câu, lời thơ cổ kính, trang nghiêm được ghi lại trong văn bản ký hiệu A. a10/13, sách được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trong khi đó, Nguyễn Khắc Thuyết cũng có một bài diễn ca dài 480 câu thơ lục bát về nhân vật lịch sử này trong văn bản ký hiệu AB.589, sách lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm mà chúng tôi đã có dịp phiên âm giới thiệu. Những bài văn chầu còn được gọi là bài văn tụng ví dụ như các bài Tô Đài Trung nghĩa Đại Vương tụng (về Tô Hiến Thành), Hoa Đàm Thiền sư Thánh Đức tụng (về Thiền sư Nguyễn Minh Không). Các bài tụng này được lưu giữ tại xã Gia Tiến huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Tiếp theo bài Văn chầu tổ, từ trang [3a] đến trang [38a] là bàiNguyễn Đình tộc thế phả giải ca阮 廷 族 世 譜 解 歌. Đâylà bản diễn ca dài về lịch sử dòng họ Nguyễn gốc ở làng Nhị Khê, gồm 59 tờ (116 trang), 878 câu thơ lục bát. Bản diễn ca này dựa trên nội dung chính của bản gia phả chữ Hán của chi họ Nguyễn Nhữ - Nguyễn Đình là Nguyễn Đình tộc gia phả thế hệ tập 阮 廷 族 家 譜 世 系 集 nói trên. Đây thực sự là một văn bản, tác phẩm diễn ca lịch sử về một họ tộc. Khi thành một bản diễn ca, nó không còn là một bản gia phả khô khan ghi bằng chữ Hán, chỉ một số ít người trong họ biết chữ Hán đọc được. Nội dung chính của bản gia phả được chuyển tải thành những lời thơ mượt mà, giầu âm thanh, nhịp điệu có thể kể, có thể đọc thuộc lòng và thành lời ru cho các thế hệ con cháu trong họ tộc. Đó là cách để lưu truyền, giáo dục con cháu về truyền thống, cội nguồn của dòng họ mình. Qua đó mà con cháu các thế hệ tự hào về truyền thống gia tộc, phát huy những truyền thống tốt đẹp của tổ tiên ông bà làm cho xã hội Việt Nam ngày càng tốt đẹp, thịnh vượng hơn.

Bài Khuyến hiếu thiên diễn ca từ trang [38b] đến trang [43b], gồm 152 câu lục thơ lục bát. Nội dung bài ca khuyên con cháu trong họ phải biết tu dưỡng bản thân, làm tròn đạo hiếu với cha mẹ ông bà.

Bài Văn Xương âm chất văn diễn ca, gồm 92 câu diễn theo thể song thất lục bát. Nội dung diễn lời Văn Xương Đế Quân khuyên làm điều thiện để dạy con cháu trong họ phải biết sống thiện và làm điều thiện để được hưởng phúc lành:

Đoạn không ác diệu lai xâm

Phúc tinh thường lại gia lâm họ mình

Mau thì được vinh danh mình trước

Lâu nữa là hiển chức con sau

Đầy nhà phúc lộc dồi dào

Bởi vì âm chất dành lâu đã nhiều.

Phần cuối văn bản gồm các bài văn cúng trong các dịp tuần tiết, phụ thêm phần ghi tên, ngày kỵ của họ bên ngoại.

Cuối cùng có một bài thơ giáng bút của Nguyễn Trãi theo thể Hàn luật, một bài Hiếu tử giải bằng song thất lục bát.

Như vậy, trong Nguyễn Đình tộc thế phả giải ca chủ yếu là các bài diễn ca Nôm dựa trên cơ sở nội dung của bản gia phả bằng chữ Hán diễn lại gốc tích dòng họ từ Nguyễn Phi Khanh đến Nguyễn Nhữ Soạn cho đến đời Nguyễn Đình Hội đời thứ 16. Bản diễn ca ngoài giá trị lịch sử, giáo dục còn có giá trị về mặt văn học, góp phần làm phong phú thêm dòng thơ diễn ca lịch sử Việt Nam. Nhân đây, chúng tôi xin giới thiệu bài văn chầu tổ, một bài ngắn trong văn bản:

CHẦU TỔ VĂN朝 祖 文

Gió đưa thoảng hương thơm sực nức,

Lòng chí thành chầu đức Tổ ta,

Trông lên di tượng nguy nga,

Thánh thần văn võ tài là không hai.

5-Trí mưu dũng lược hơn người,

Bình Ngô khai quốc giúp đời vua Lê.

Nguyên xưa quán ở Nhị Khê,

Một nhà truyền nối mọi bề trâm anh.

Cha là ông Nguyễn Phi Khanh,

10-Thi đỗ Bảng nhãn nổi danh Trần triều.

Anh là Nguyễn Trãi cũng hào,

Đỗ đầu Thái học tên lưu đời Hồ.

Cha anh cùng một triều vua,

Tưng bừng cá nước duyên ưa hội này.

15-Ai ngờ dâu bể đổi thay,

Giặc Ngô nó đến cướp rày nước ta.

Vua Hồ nó đã bắt mà,

Còn cha anh thế cũng hoà vạn sơn,

Đi đưa cha đến Nam Quan,

20-Báo thù đôi chữ cha khuyên trở về.

Anh em vâng lĩnh lời thề.

Hiếu trung một gánh tái kề kinh đô.

Làm văn kể tội giặc Ngô,

Tế đền Dạ Trạch nằm cầu mộng chiêm.

25-Biết trời còn tựa nước Nam,

Quân Lê tướng Nguyễn hội làm long vân.

Từ khi gặp đấng chân nhân,

Lam Sơn khởi nghĩa ra quân tế cờ.

Khi trù trướng lúc nhung cơ,

30-Văn thao võ lược trí dư vạn người.

Một con gươm bạc cầm chơi,

Đánh hơn trăm trận nào ai địch cùng.

Chước làm bát trận bộ công,

Bắt ngươi Hoàng Phúc ở trong trận đồ.

35-Hoả công trận lập cũng màu,

Truyền quân thuỷ phục chém đầu Liễu Thăng.

Anh hùng chí khí lâng lâng,

Như thần liệu địch tài bằng Khổng Minh.

Giặc Ngô trăm tướng vạn binh,

40-Cứ trong quân pháp gia hình chẳng tha.

Trời Nam mưa thuận gió hoà,

Bình Ngô đại cáo chỉ ra trong ngoài.

Vương thần khắp tận mọi nơi,

Tôn vua Lê tổ(1) ngự ngôi cửu trùng.

45-Khao quân thưởng tướng định công,

Ông Trãi(2) đệ nhất được phong công đầu.

Lại phong đấng Tổ(3) cũng cao,

Bình Ngô khai quốc(4) Hiệp mưu công thần.

Tước hầu Á võ thù huân,

50-Quận công lại tiến tước phần ấp Tuy.

Ân cho tứ tính họ Lê(5),

Sắc ra tặng Thái phó Tuy Quốc công.

Lưỡng toàn hai chữ hiếu trung.

Lam Sơn bia tạc ghi công còn truyền.

55-Nhân khi thừa chỉ hưu quan(6),

Trở về Thanh Hoá tại miền đế hương(7).

Khai canh lập ấp mở mang,

Xã thành Mộc Nhuận thôn trang tám làng.

Nền nhân xây đắp vững vàng,

60-Lan tôn quế tử đời thường sinh ra.

Chan chan(8) công tộc họ ta,

Ân phong năm tước vinh hoa đời đời.

Xa trông đấng tổ uy nghi,

Sống là tướng mạnh chết thì thần tiên.

65-Đền thờ khắp các mọị miền,

Khi nơi Hào Vĩnh khi bên Lan Trà.

Khi chơi Thường Tín phủ nhà,

Khi thì Chân Lộc khi là Phổ Môn.

Khắp trong công tử công tôn,

70-Tinh thần hiển ứng tưởng còn như sinh.

Gần xa hách trạc(9) linh thiêng,

Công hay phù quốc đức dành yên dân.

Mấy triều vua chúa long ân,

Gia phong mỹ tự sắc văn phúc thần.

75-Sớm nay con cháu kính trần,

Hương đăng hoa quả trai thân yến tiền.

Tế như tiên tổ ngự trên.

Di dung thường thấy như bên cạnh tường.

Siêng thường giá ngự từ đường,

80-Hộ cho công tộc vinh xương đời đời.

Sống lâu lắm của lắm người./. 


Chú thích
:

(1). Lê Tổ: tức vua Lê Thái Tổ.

(2). Ông Trãi: tức Nguyễn Trãi.

(3). Đấng tổ: chỉ ông tổ tiểu chi ở chi thứ 2.

(4). Bình Ngô khai quốc: ý nói ông tổ chi là người có công bình Ngô khai quốc.

(5). Tứ tính họ Lê: được ban cho họ Lê (họ của vua).

(6). Hưu quan: nghỉ hưu.

(7). Đế hương: chỉ quê của vua Lê Thái Tổ.

(8). Chan chan: đông đúc, tốt tươi.

(9). Hách trạc: chói sáng.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.516-525)

Hoàng Thị Ngọ
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm