VI | EN
65. Bài văn mục lục thờ Thành hoàng làng Thụy Lân (TBHNH 2012)
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.526-531)

BÀI VĂN MỤC LỤC THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG THỤY LÂN

NGUYỄN TÁ NHÍ

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Làng Thụy Lân xã Thanh Long huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên là một làng quê có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời. Trước đây Thụy Lân là một xã thuộc huyện Đông Yên phủ Khoái Châu xứ Sơn Nam Thượng. Đến thế kỷ XVIII, nhà nước cải cách hành chính, lấy một số xã của huyện Đông Yên kết hợp với một số xã của huyện Mỹ Hào tỉnh Hải Dương đặt ra huyện Yên Mỹ. Từ đó làng Thụy Lân thuộc về huyện Yên Mỹ. Dân làng Thụy Lân chuyên nghề nông, trồng cấy lúa nước và hoa màu, song cũng rất hiếu học, nhiều người đi thi đỗ đạt cao. Hiện ở ngoài bìa làng còn lưu giữ ngôi đền thờ Tể tướng Lý Đạo Thành và một ngôi miếu thờ Thiên tiên Thiên nữ. Bản thần phả hiện lưu giữ trong đền viết bằng chữ Hán cho biết, ngài Lý Đạo Thành thuở còn hàn vi từng mở trường dạy học ở đất làng Thụy Lân. Sau ra giúp nước phò tá ba triều vua nhà Lý lập nhiều công lao được phong đến chức Bình chương quân quốc trọng sự. Sau khi mất dân làng xây dựng đền miếu để thờ phụng ngài. Ngoài đoạn ghi thần tích ra, trong bản thần phả này còn ghi được 86 bài văn tế bằng chữ Hán, lời văn hàm súc, ý tứ sâu sắc. Đặc biệt sách còn chép được một bài văn mục lục thờ thần viết bằng chữ Nôm theo thể song thất lục bát, tất cả gồm 70 câu. Đây là một bài văn mục lục viết công phu, lời văn chau chuốt cổ kính, cung cấp nhiều tư liệu quý cho việc nghiên cứu văn hóa làng xã. Do vậy chúng tôi xin phiên âm chú giải toàn văn để giới thiệu trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2012 này. Toàn văn là:

Ngôi Hoàng Việt long phi cửu bệ,

Đình Thụy Lân quy thể(1) nhất tòa.

Tháng hai vừa tiết trung hòa,

Lễ là chúc thánh hội là thưởng xuân.

Thời thịnh vượng diên trần(2) la ỷ(3),

Làng đủ no ước ký thạch kim(4)

Rõ ràng thịnh vạn hi điềm(5)

Cổ kim một mối lư diêm(6) cùng lòng

Mừng nay thấy tượng rồng lồ lộ

Ngửa trông xem vẻ hổ đường đường

Quỹ văn tiếng dậy mọi phương

Non sông muôn cõi vẻ vang bốn mùa

Xem làng biết đạo vua dễ đó

Gặp thời lên cõi thọ vui thay

Ngắm xem phong cảnh ta đây

Tiếng lừng Mỹ quận(7) xưa này Khoái Châu

Kìa Yến hạng Lân khu tố định(8)

Nọ Nghĩa giang kim tỉnh(9) an bài

Giang sơn như chuỗi hạt trai

Đầu trong Mỹ Xá mặt ngoài Thanh Nga

Cuối Long Vĩ(10) thế ra rồng uốn

Giữa Thượng Tài(11) thể vốn mây quanh

Mới hay nhân kiệt địa linh

Đất chung(12) khí tốt, người sinh tài toàn(13)

Văn thập lý(14) dân quan tường trị

Võ tam quân nhung súy(15) chỉ huy

Nào nghiệp nọ lại nghề kia

Nho thì mấy sử, nông thì cày mây

Thương trí lự(16) giàu tày Đào Ỷ(17)

Công tài hoa khéo ví Ban Thùy(18)

Chan chan bùa số nho y(19)

So xem chúng kỹ(20) kém gì tứ lân

Nay thời tiết mười phân minh mị(21)

Mà càn khôn một vẻ quang hoa

Màu xuân tranh vẽ gần xa

Khí lành vào cõi gió hòa muôn phương

Cảnh tốt chỉ đất càng tốt nhỉ

Thần vui thay người nghĩ vui thay

Kịp thời trên đội ơn dày

Hợp cùng lòng chúng mở bày tiệc xuân

Lễ hương ẩm nhân tuần(22) lệ định

Tri tân diên(23) tục vịnh(24) ca truyền

Nào cuộc rượu, nào cung đàn

Nào đình múa khách, nào đền hát văn

Khúc lưu thủy hành vân réo rắt

Mùi hoàng hoa bạch tuyết thơm cay

Rơm nghe luận bụi lương bay

Múa dường Phi Yến(25) hát tày Miên Câu(26)

Ấy ngoạn thưởng mặc dầu tự khoái

Này phong khiên(27) nên phải phòng vi(28)

Tuần như dã, thế thủ chi

Lễ noi hương đảng, ước nghi lam điền

Tương tuất(29) vạy mà nên tương khuyến

Tương nhượng rồi lại miễn(30) tương quy

Tục là nguyên khí khác gì

Nên chăm lễ nhượng chớ kỳ căng kiêu

Huống hương đảng cũng triều đình nhỏ

Phải tôn ti theo tổ phụ xưa

Vậy đảng trướng(31) mấy hương sư

Nhủ dân dạy chúng đều từ đầu năm

Việc kính giới đã chăm thúc ước(32)

Lời tụng ca lại tục canh ca

Đầm rộng sông dài khúc uốn quanh

Khe ngày cừ dọc nước long lanh

Trong ngoài náo nức nhuần ơn gội

Nam bắc vầy vui đượm gió lành

Thơ nhà thơ nam(33) lừng cổ súy

Lời hình lời lễ lắng thân mình(34)

Xinh thay cảnh tượng thăng bình cũ

Xin vọng tam đa(35) chúc cả đình.

 

Chú thích

(1). Quy thể: hình thế con rùa.

(2). Diên trần: bày biện, bày soạn.

(3). La ỷ: lụa là.

(4). Ước ký thạch kim: bản thúc ước ghi vào bia đá.

(5). Thịnh vân hi điềm: điềm tốt lành.

(6). Lư diêm: làng xóm.

(7). Mỹ quận: tức huyện Yên Mỹ.

(8). Tố định: vốn định ra từ xưa.

(9). Kim tỉnh: giếng vàng.

(10). Long vĩ: đuôi rồng.

(11). Thượng tài: chen vào bên trên.

(12). Đất chung: đất đai chung đúc nên.

(13). Tài toàn: tài đức song toàn.

(14). Thập lý: mười dặm, chỉ vùng đất rộng của một làng, nên viên xã trưởng được gọi là Thập lý hầu.

(15). Nhung súy: tướng soái quân sự.

(16). Trí lự: mưu tính khôn ngoan.

(17). Đào ý: tức Đào Chu Công, lái buôn giàu có thời xưa.

(18). Ban Thùy: tức Công Thâu Ban, thợ mộc tài giỏi thời xưa.

(19). Bùa số nho y: tức nho y lý số.

(20). Chúng kỹ: các loại kỹ nghệ.

(21). Minh mị: trong sáng tươi tốt.

(22). Nhàn tuần: lần lượt thay đổi.

(23). Tân diên: tiệc cỗ mới bày.

(24). Tục vịnh: đề vịnh tiếp nối.

(25). Phi Yến: người con gái xinh đẹp múa hát giỏi.

(26). Miên câu: chưa rõ nói điều gì.

(27). Phong khiên: có lỗi lầm.

(28). Phòng vi: đề phòng từ lúc còn manh nha.

(29). Tương tuất: thương xót nhau.

(30). Miễn: gắng gỏi.

(31). Đảng trưởng: trưởng xóm.

(32). Thúc ước: quy ước của xóm làng.

(33). Thơ nhã thơ nam: chỉ các bài thơ trong Kinh Thi.

(34). Thân minh: trình bày.

(35). Tam đa: ba thứ nhiều tức đa phúc, đa lộc, đa thọ.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.526-531)

Nguyễn Tá Nhí
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm