65. Bài văn mục lục thờ Thành hoàng làng Thụy Lân (TBHNH 2012)
BÀI VĂN MỤC LỤC THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG THỤY LÂN
NGUYỄN TÁ NHÍ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Làng Thụy Lân xã Thanh Long huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên là một làng quê có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời. Trước đây Thụy Lân là một xã thuộc huyện Đông Yên phủ Khoái Châu xứ Sơn Nam Thượng. Đến thế kỷ XVIII, nhà nước cải cách hành chính, lấy một số xã của huyện Đông Yên kết hợp với một số xã của huyện Mỹ Hào tỉnh Hải Dương đặt ra huyện Yên Mỹ. Từ đó làng Thụy Lân thuộc về huyện Yên Mỹ. Dân làng Thụy Lân chuyên nghề nông, trồng cấy lúa nước và hoa màu, song cũng rất hiếu học, nhiều người đi thi đỗ đạt cao. Hiện ở ngoài bìa làng còn lưu giữ ngôi đền thờ Tể tướng Lý Đạo Thành và một ngôi miếu thờ Thiên tiên Thiên nữ. Bản thần phả hiện lưu giữ trong đền viết bằng chữ Hán cho biết, ngài Lý Đạo Thành thuở còn hàn vi từng mở trường dạy học ở đất làng Thụy Lân. Sau ra giúp nước phò tá ba triều vua nhà Lý lập nhiều công lao được phong đến chức Bình chương quân quốc trọng sự. Sau khi mất dân làng xây dựng đền miếu để thờ phụng ngài. Ngoài đoạn ghi thần tích ra, trong bản thần phả này còn ghi được 86 bài văn tế bằng chữ Hán, lời văn hàm súc, ý tứ sâu sắc. Đặc biệt sách còn chép được một bài văn mục lục thờ thần viết bằng chữ Nôm theo thể song thất lục bát, tất cả gồm 70 câu. Đây là một bài văn mục lục viết công phu, lời văn chau chuốt cổ kính, cung cấp nhiều tư liệu quý cho việc nghiên cứu văn hóa làng xã. Do vậy chúng tôi xin phiên âm chú giải toàn văn để giới thiệu trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2012 này. Toàn văn là:
Ngôi Hoàng Việt long phi cửu bệ,
Đình Thụy Lân quy thể(1) nhất tòa.
Tháng hai vừa tiết trung hòa,
Lễ là chúc thánh hội là thưởng xuân.
Thời thịnh vượng diên trần(2) la ỷ(3),
Làng đủ no ước ký thạch kim(4)
Rõ ràng thịnh vạn hi điềm(5)
Cổ kim một mối lư diêm(6) cùng lòng
Mừng nay thấy tượng rồng lồ lộ
Ngửa trông xem vẻ hổ đường đường
Quỹ văn tiếng dậy mọi phương
Non sông muôn cõi vẻ vang bốn mùa
Xem làng biết đạo vua dễ đó
Gặp thời lên cõi thọ vui thay
Ngắm xem phong cảnh ta đây
Tiếng lừng Mỹ quận(7) xưa này Khoái Châu
Kìa Yến hạng Lân khu tố định(8)
Nọ Nghĩa giang kim tỉnh(9) an bài
Giang sơn như chuỗi hạt trai
Đầu trong Mỹ Xá mặt ngoài Thanh Nga
Cuối Long Vĩ(10) thế ra rồng uốn
Giữa Thượng Tài(11) thể vốn mây quanh
Mới hay nhân kiệt địa linh
Đất chung(12) khí tốt, người sinh tài toàn(13)
Văn thập lý(14) dân quan tường trị
Võ tam quân nhung súy(15) chỉ huy
Nào nghiệp nọ lại nghề kia
Nho thì mấy sử, nông thì cày mây
Thương trí lự(16) giàu tày Đào Ỷ(17)
Công tài hoa khéo ví Ban Thùy(18)
Chan chan bùa số nho y(19)
So xem chúng kỹ(20) kém gì tứ lân
Nay thời tiết mười phân minh mị(21)
Mà càn khôn một vẻ quang hoa
Màu xuân tranh vẽ gần xa
Khí lành vào cõi gió hòa muôn phương
Cảnh tốt chỉ đất càng tốt nhỉ
Thần vui thay người nghĩ vui thay
Kịp thời trên đội ơn dày
Hợp cùng lòng chúng mở bày tiệc xuân
Lễ hương ẩm nhân tuần(22) lệ định
Tri tân diên(23) tục vịnh(24) ca truyền
Nào cuộc rượu, nào cung đàn
Nào đình múa khách, nào đền hát văn
Khúc lưu thủy hành vân réo rắt
Mùi hoàng hoa bạch tuyết thơm cay
Rơm nghe luận bụi lương bay
Múa dường Phi Yến(25) hát tày Miên Câu(26)
Ấy ngoạn thưởng mặc dầu tự khoái
Này phong khiên(27) nên phải phòng vi(28)
Tuần như dã, thế thủ chi
Lễ noi hương đảng, ước nghi lam điền
Tương tuất(29) vạy mà nên tương khuyến
Tương nhượng rồi lại miễn(30) tương quy
Tục là nguyên khí khác gì
Nên chăm lễ nhượng chớ kỳ căng kiêu
Huống hương đảng cũng triều đình nhỏ
Phải tôn ti theo tổ phụ xưa
Vậy đảng trướng(31) mấy hương sư
Nhủ dân dạy chúng đều từ đầu năm
Việc kính giới đã chăm thúc ước(32)
Lời tụng ca lại tục canh ca
Đầm rộng sông dài khúc uốn quanh
Khe ngày cừ dọc nước long lanh
Trong ngoài náo nức nhuần ơn gội
Nam bắc vầy vui đượm gió lành
Thơ nhà thơ nam(33) lừng cổ súy
Lời hình lời lễ lắng thân mình(34)
Xinh thay cảnh tượng thăng bình cũ
Xin vọng tam đa(35) chúc cả đình.
Chú thích
(3). La ỷ: lụa là.
(4). Ước ký thạch kim: bản thúc ước ghi vào bia đá.
(5). Thịnh vân hi điềm: điềm tốt lành.
(6). Lư diêm: làng xóm.
(7). Mỹ quận: tức huyện Yên Mỹ.
(8). Tố định: vốn định ra từ xưa.
(9). Kim tỉnh: giếng vàng.
(10). Long vĩ: đuôi rồng.
(11). Thượng tài: chen vào bên trên.
(12). Đất chung: đất đai chung đúc nên.
(13). Tài toàn: tài đức song toàn.
(14). Thập lý: mười dặm, chỉ vùng đất rộng của một làng, nên viên xã trưởng được gọi là Thập lý hầu.
(15). Nhung súy: tướng soái quân sự.
(16). Trí lự: mưu tính khôn ngoan.
(17). Đào ý: tức Đào Chu Công, lái buôn giàu có thời xưa.
(18). Ban Thùy: tức Công Thâu Ban, thợ mộc tài giỏi thời xưa.
(19). Bùa số nho y: tức nho y lý số.
(20). Chúng kỹ: các loại kỹ nghệ.
(21). Minh mị: trong sáng tươi tốt.
(22). Nhàn tuần: lần lượt thay đổi.
(23). Tân diên: tiệc cỗ mới bày.
(24). Tục vịnh: đề vịnh tiếp nối.
(25). Phi Yến: người con gái xinh đẹp múa hát giỏi.
(26). Miên câu: chưa rõ nói điều gì.
(27). Phong khiên: có lỗi lầm.
(28). Phòng vi: đề phòng từ lúc còn manh nha.
(29). Tương tuất: thương xót nhau.
(30). Miễn: gắng gỏi.
(31). Đảng trưởng: trưởng xóm.
(32). Thúc ước: quy ước của xóm làng.
(33). Thơ nhã thơ nam: chỉ các bài thơ trong Kinh Thi.
(34). Thân minh: trình bày.
(35). Tam đa: ba thứ nhiều tức đa phúc, đa lộc, đa thọ.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.526-531)