65. Về chữ Huyền tại quán Trấn Vũ, Hà Nội (TBHNH 2005)
CHỮ HUYỀN (玄) TẠI QUÁN TRẤN VŨ HÀ NỘI
PHẠM VĂN THẮM
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Quán Trấn Vũ, một di tích ven hồ Tây (nay thuộc phường Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội) đang lưu giữ nhiều di văn Hán Nôm. Trong mảng di văn này chúng tôi thấy có một mã chữ huyền 玄 xuất hiện nhiều lần trong các văn bản. Có thể liệt kê như sau:
1- Tại phía sau cổng vào có một cặp đại tự, phía bên phải đề 出玄 (huyền xuất), phía trái đề 入牝 (tẫn nhập).
2- Tại bức hoành số 2 có 4 chữ :
玄德升闻(huyền đức thăng văn).
3- Trong các câu đối có một đôi ghi:
武当山石炼何年色相俱空真身尚在,
玄天觀雲游此日仙踪偶寄靈跡長留。
(câu đối số 17)
(Vũ đương sơn thạch luyện hà niên, sắc tướng câu không chân thân thượng tại,
Huyền Thiên quán vân du thử nhật tiên tung ngẫu ký linh tích trường lưu).
4- Tại gian thờ có treo 25 bài thơ được khắc trên gỗ nạm bạc, trong đó có các bài thơ ghi:
浪泊湖西玄武楼,
苍茫旺气夜光浮。(Bài số 3)
...
(Lãng Bạc hồ Tây Huyền Vũ lâu
Thương mang vượng khí dạ quang phù)
矗矗城边百尺楼,
玄真胜跡古今留。(Bài số 8)
…
(Súc súc thành biên bách xích lâu
Huyền Chân thắng tích cổ kim lưu)
龙遍名迹访玄真
缥缈樓台敬水濱。(Bài số 10)
…
(Long Biên danh tích phỏng Huyền Chân
Phiếu diểu lâu đài kính thủy tân)
玄觀窺然镇碧流
重新景色入清秋。(Bài số 13)
...
(Huyền quán khuy nhiên trấn bích lưu
Trùng tân cảnh sắc nhập thanh thu)
玄觀崢嵘倚遠峰
餘靈長為鎮升龍。(Bài số 14)
... ...
(Huyền quán tranh vanh ỷ viễn phong
Dư linh trường vị trấn Thăng Long
... ...
锺聲唤起桑蒼梦,
借問玄真梦醒無。(Bài 22)
(Chung thanh hoán khởi tang thương mộng
Tá vấn Huyền Chân mộng tỉnh vô)
5- Trong số bia dựng tại quán, có tấm bia ghi:
真气練交水火,
玄關透澈精微。
(Diệu cảm tu tâm kiến văn lạc đạo bi)
(Chân khí luyện giao thủy hỏa
Huyền quan thấu triệt tinh vi)
玄帝練丹疑此地,
仙翁磨楮是何年。
(Trùng tu Trấn Vũ quán bi ký)
(Huyền đế luyện đan nghi thử địa
Tiên ông ma chử thị hà niên).
Tìm hiểu chữ Huyền (玄) xuất hiện trên văn bản lưu giữ tại quán Trấn Vũ chúng tôi nhận thấy chữ này mang nhiều nét nghĩa như chỉ mầu sắc, chỉ phương hướng…, trong đó có nét nghĩa liên quan tới đạo giáo. Cụ thể như sau:
- Chỉ một vị thần của đạo giáo.
Quán Trấn Vũ thờ thần Chân Vũ (thần Chân Vũ. Bài 8, 10, 22). Về nguồn gốc của vị thần này, trong bài thơ vua Thiệu Trị khi đi tuần thú Hà Nội đến thăm quán có chú rõ: thời Minh Thành tổ có Đáp Tử là giặc Hoàng mao (lông vàng) làm phản. Lúc đó quân Minh thua chạy, bỗng nhiên trên không trung có một người cầm kiếm xua sấm gió đến giết giặc lông vàng.Thành tổ hỏi thày họ Trương được biết đó là thần Chân Vũ ở phương bắc, nhà vua bèn cho xây cung điện và đắp tượng ở núi Vũ Đương để thờ cúng. [Ở Việt Nam] thời Thục An Dương vương, Tinh Kê và Phục Quỉ thường xuất hiện ở núi Thất Diệu để quấy nhiễu dân lành. Thần Chân Vũ đã hiển ứng ở núi Xuân Lôi diệt trừ hết lũ quái ác. Nhà vua đã cho dựng miếu ở phía bắc của thành để thờ cúng thần(1). Trong di tích có bức hoành 玄德升聞Chữ (玄) mang nét nghĩa chỉ vị thần được thờ trong di tích này. (玄德升聞= huyền đức thăng văn. Công đức của thần lừng lẫy).
- Chỉ tên gọi các di tích của đạo giáo.
Các di tích của đạo giáo trong đó có quán Trấn Vũ thường có chữ huyền (玄) (câu đối số 17, biển thơ số 3, 13, 14). Ở Hà Nội còn có Huyền Thiên quán, một di tích của đạo giáo hiện ở phố Hàng Khoai quận Hoàn Kiếm Hà Nội.
Tại phía sau cổng vào quán Trấn Vũ có một cặp đại tự, phía bên phải đề 出玄 (huyền xuất), phía trái đề 入牝 (tẫn nhập). Về cặp đại tự này, các nhà nghiên cứu đi trước đã nêu nghĩa đen của cặp đại tự là vào cửa tẫn ra cửa huyền và giải thích thêm cửa huyền là dương thông với trời, cửa tẫn là âm thông với đất. Cửa huyền tẫn là cửa vãng lai hòa hợp của nguyên khí, hòa hợp âm dương, hòa hợp trời đất, hoà hợp giữa con người với đạo. Cũng có một cách chú giải thêm về huyền tẫn. Các nhà đạo gia cho rằng huyền tẫn là cội nguồn sinh sôi nẩy nở vạn vật. Theo Lão tử thì 谷神不死是謂玄牝= cốc thần bất tử thị vị huyền tẫn (cốc thần còn mãi thì gọi là huyền tẫn), các đạo gia còn quan niệm cửa huyền tẫn là gốc của trời đất. 玄牝之門是謂天地之根 = huyền tẫn chi môn thị vị thiên địa chi căn). Theo Hà Thượng người Trung Quốc thì huyền được ví với trời nhưng khi ví với người thì là mũi. Tẫn được ví với đất, khi ví với người là miệng. Cửa mũi miệng được quan niệm là nơi nguyên khí của trời đất qua lại. Các nhà luyện đan thì cho rằng cửa huyền chỉ phương Bắc. Phương Bắc là biểu tượng của quẻ Khảm trong kinh Dịch . Cửa tẫn chỉ phương Nam, biểu tượng của quẻ Ly. Khảm Ly hòa hợp thì công việc luyện đan được trọn vẹn.
Chú thích
(1) Bài thơ của vua Thiệu Trị có tên 題真武觀= Đề Chân Vũ quán đã được khắc ngày lành tháng 12 năm Thiệu Trị 2 (1842) trên biển đồng hiện treo tại phía phải gian thờ.
Tài liệu tham khảo.
1- Di văn Hán Nôm quán Trấn Vũ. Phòng văn hóa Thông tin quận Ba Đình (bản đánh máy tháng 11 năm 2001).
3- Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội. Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000./.
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.562-566)