66. Văn miếu huyện Mỹ Lương (TBHN 2008)
VĂN MIẾU HUYỆN MỸ LƯƠNG
NGUYỄN TÁ NHÍ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Một lần về công tác tại xã Thạch Hòa huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội, tôi được đồng chí cán bộ phòng Văn hóa huyện dẫn đến tham quan nền cũ của Văn miếu hàng huyện. Đó là khu đất thoáng đạt rộng chừng một mẫu Bắc bộ, có một gò cao nổi lên, cây cối xanh tươi xum xuê cành lá. Các cụ trong Ban di tích thôn Dã Cát cho biết, tương truyền xưa kia Hội Tư văn hàng huyện cho xây dựng miếu ở đây. Hiện nay văn miếu huyện đã bị mai một hoàn toàn, nhà cửa, đồ thờ văn bia đều không tìm thấy. Chỉ riêng có bài Thu tế văn được sao chép trong cuốn sách Hán Nôm chép tay do cụ Thủ từ ở đình lưu giữ. Các cụ trong Ban quản lý di tích thôn Dã Cát xưa kia là xã Dã Cát đứng đầu tổng Dã Cát, nên Tư văn huyện Mỹ Lương đã chọn đất xã Dã Cát để xây dựng văn miếu hàng huyện. Thôn Dã Cát hiện nay thuộc xã Thạch Hòa huyện Quốc Oai, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 thôn Dã Cát thuộc tổng Cấn Xá huyện Yên Sơn phủ Quốc Oai. Xin lưu ý thêm là huyện Yên Sơn cũng có Văn Miếu, đặt tại thôn Yên Nội xã Đồng Quang huyện Quốc Oai, hiện còn bia đá ghi lại việc này. Vậy thì, tại sao thôn Dã Cát thuộc đất của huyện Yên Sơn mà lại có nền móng Văn miếu huyện Mỹ Lương được. Điều này muốn giải thích rõ ràng, hẳn phải bỏ công sức tìm tòi tra cứu thêm các tư liệu lịch sử khác.
Theo Đại Nam nhất thống chí phần tỉnh Sơn Tây cho biết tên huyện Mỹ Lương bắt đầu thấy xuất hiện từ thời Trần (1009-1225) là bộ sách có niên đại sớm nhất ghi chép về huyện Mỹ Lương. Sách cho biết toàn huyện Mỹ Lương bao gồm có 7 tổng là Cao Bộ, Phương Hương, Mỹ Lương, Dã Cát, An Lạc, Kim Bôi, Minh Lương. Thủ phủ của huyện Mỹ Lương đặt tại xã Cao Bộ tổng Cao Bộ, nay thuộc xã Trung Hòa huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội. Huyện Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây tiếp tục tồn tại đến những năm tám mươi của thế kỷ 19. Sách Đồng Khánh địa dư chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn hoàn thành năm 1887 cho biết huyện Mỹ Lương thời bấy giờ có 8 tổng, ngoài 7 tổng như đã nói ở trên, còn có thêm huyện Yên Kiện. Đến tháng 4 năm 1888 theo lệnh của Thống sứ Bắc Kỳ, huyện Mỹ Lương bị chia tách ra rồi hợp với huyện Chương Đức của tỉnh Hà Nội để thành lập huyện Chương Mỹ đóng ở Quảng Bị, đã có văn miếu hàng huyện xây dựng ở lỵ sở của huyện rồi, do vậy Văn miếu hàng huyện đặt ở xã Dã Cát bị đổi thành văn từ của tổng Dã Cát. Đến đầu thế kỷ 20, tổng Dã Cát có 7 xã là Dã Cát, Hòa Mục, Bạch Thạch, Quất Lâm, Bằng Lộ, Phú Mãn, Đào Lãng lại bị chia tách. Bốn xã Dã Cát, Hòa Mục, Bạch Thạch, Phú Mãn lại được chuyển sang tổng Cấn Xá huyện Yên Sơn, do vậy mà văn miếu hàng huyện hoàn toàn bị lãng quên.
Dã Cát là một làng quê giàu truyền thống văn hóa lịch sử. Đình làng thờ Tản Viên Sơn Thánh tam vị đại vương và nhiều vị thần ở địa phương như Giám sát Đại vương, Ông Vật Đại vương, Ông Suối Đại vương, Trần Quốc Đại vương, Thượng Tiên Tiên Dung công chúa, Đế Thích.
Hiện trong đình làng Dã Cát còn lưu giữ được một cuốn sách Hán Nôm tương đối cổ. Sách chép tay, cỡ lớn 18x26cm, gồm 36 trang, ghi chép lại các đạo sắc phong của triều đình phong tặng các thánh và nhiều bài văn tế thành hoàng làng và các vị thần khác được thờ ở đình làng. Cuối sách có bài văn tế thánh hiền mùa xuân và mùa thu tại Văn miếu. Theo quy chế thời xưa, việc thờ phụng các bậc thánh hiền của đạo Nho thường được đặt tại Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ. Cử nhân Đoàn Triển trong sách An Nam phong tục sách cho biết: "Nơi thờ phụng có làm nhà thờ gọi là Văn từ, chỉ lập đền thờ mà không dựng nhà thờ gọi là Văn chỉ. Từ chỉ dùng để thờ phụng Tiên thánh Tiên sư Khổng Tử, hoặc để thờ phụng các vị Tiên hiền khoa vọng ở địa phương. Đây là nơi ghi nhận việc truyền dạy lễ giáo của đạo Nho. Ở các cấp phủ, huyện, tổng, xã đều có lập văn từ".
Theo quy định chung nơi thờ Khổng Tử trung ương và cấp tỉnh, cấp phủ, cấp huyện được gọi là Văn miếu, còn ở cấp tổng, cấp xã gọi là Văn từ Văn chỉ. Đôi khi cũng thấy ở cấp huyện có gọi là Văn từ, Văn chỉ, song không bao giờ thấy ở xã ở tổng gọi là Văn miếu cả. Do vậy bài văn tế thánh chép trong cuốn sách Hán Nôm để ở đình Dã Cát ghi là Văn miếu xuân thu tế văn có thể là chứng cứ quan trọng cho biết Văn miếu hàng huyện đặt ở xã Dã Cát vậy. Xã Dã Cát ở cách lỵ sở huyện Mỹ Lương là (và) xã Cao Bộ chừng 4km, song lại có vị thế ở gần ngay phủ Quốc Oai, do vậy Văn miếu huyện Mỹ Lương rất có thể đã từng đặt ở đây. Trong bài văn tế này còn thấy ghi tên cả Nho thần Chu Văn An của Việt Nam.
Nhận thấy đây là tài liệu quý giúp chúng ta tìm hiểu thêm về huyện Mỹ Lương, chúng tôi xin phiên âm dịch nghĩa giới thiệu trong Hội nghị thông báo Hán Nôm năm 2009 này.
Văn miếu xuân thu tế văn
Thánh hiệu:
- Đại Thành chí Thánh Văn Tuyên Vương vị tiền
- Kính dĩ tứ phối
Duyệt quốc Phục thánh công
Thành quốc Tông thánh công
Huân quốc Cầu thánh công
Trâu quốc Á thánh công
- Thập triết liệt thánh công
+ Đông triết:
Tiết Công Nhiễm Ung
Tượng Công Đoan Mộc Tứ
Phí Công Mẫn Tổn
Thành Công Trọng Do
Tô Công Bốc Thương
+ Tây triết:
Trịnh Công Nhiễm Ngưu
Tề Công Tể Dư
Từ Công Nhiễm Cầu
Ngô Công Công Tôn Sư
- Đông liêm Thừa Hương hầu Tô Quốc Hứa Hạnh Đạm Đài Diệt Minh
- Tây liêm Đệ Sư hầu Văn Trinh lão bất cổ Chu An.
Kỵ
Bản huyện tiên hiền khoa mục, dĩ thượng chư danh công vị tiền tịnh đồng phối hưởng thánh vương.
Tổ cầu Nghiêu Thuấn
Hiến chương Văn Vũ
San định lục kinh
Thùy huấn vạn thế.
Xuân đinh ký dự
Bản huyện sứ nghi chương thu tế
Độc dĩ xã dân trần lễ sổ.
Thượng giám vi thành
Hạ thùy thiện dụ.
Học đạo đắc thành
Khoa mục điệp thủ.
Đạo thống đắc truyền
Tư văn vĩnh thọ.
Thực lại Đại vương chi phù hộ dã.
Dịch nghĩa:
Văn tế mùa xuân mùa thu tại Văn miếu
Ngày tháng năm niên hiệu vua...
Kính dâng lễ vật lên trước chư vị
- Đại Thánh Chí Thành Văn Tuyên Vương
- Cùng bốn vị phối hưởng là
Duyên Quốc Phục thánh công
Thành Quốc Tông thánh công
Huân Quốc Cầu thánh công
Trâu Quốc Á thánh công
- Và các vị ở hàng thập triết
Tiết công Nhiễm Ung
Tượng công Đoan Mộc Tứ
Phí công Mẫn Tổn
Thành công Trọng Do
Tô công Bốc Thương
+ Hàng bên Tây triết
Trịnh Công Nhiễm Ngưu
Tề Công Tể Dư
Từ Công Nhiễm Cầu
Ngô Công Công Tôn Sư
- Mé Đông liêm: Thừa Hương hầu Tô Quốc Hứa Hạnh Đạm Đài Diệt Minh.
- Mé Tây liêm: Đệ Sư hầu Văn Trinh lão Chu Văn An.
Cùng các chư vị tiên hiền ở bản huyện.
Tất cả các vị có tên hiệu trên đều đến phối hưởng.
Kính nghĩ thánh vương:
Tiếp nối theo vua Thuấn vua Nghiêu
Học pháp ở vua Văn vua Vũ
San định lại sáu kinh
Để truyền cho muôn thuở
Nay gặp lễ xuân đinh
Bản theo nghi thức thu tế
Cung kính dâng lên lễ vật
Xin được biết đến lòng thành
Ban cho lời dạy bảo
Để đạo học tốt lành
Người đi thi được đỗ
Đạo thống truyền dài lâu
Nền tư văn còn mãi.
Tất cả đều nhờ vào sự phù hộ giúp đỡ của các tôn thần Đại vương vậy.
Tài liệu tham khảo
1. Địa chí Hà Tây: Sở Văn hóa thể thao và du lịch Hà Tây, năm 2008.
2. Làng mỹ tục Hà Tây, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, 2000.
3. Di tích danh thắng Hà Tây, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, 1999.
4. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Nxb. KHXH, H. 1997.
5. Các trấn tổng xã danh bị lãm, A.570.
6. Sơn Tây tỉnh chí, A.857.
7. Hà Nội sơn xuyên phong vực, A.541./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.765-771