VI | EN
67. Chùa Yên Phú trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và một số vấn đề về Phật giáo Việt Nam (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

CHÙA YÊN PHÚ TRONG CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC NHUẬN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1. Chúa Yên Phú xưa với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Chùa Yên Phú, một ngôi chùa cổ, trước kia chùa có tên chữ là Thanh Vân cổ tự, sau này được đổi tên thành Khánh Hưng tự (chùa Khánh Hưng).

Chùa Yên Phú hiện nay nằm ở phía Nam Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm không xa, khoảng 18km. Xưa kia chùa nằm cạnh đường thiên lý Bắc Nam, nay là Quốc lộ 1A. Chùa toạ lạc trên một khu đất thuộc xóm Dưới, thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Theo Hồ sơ di tích lịch sử về chùa Yên Phú của Ban quản lý di tích tháng 7 năm 1987 ghi: “thôn Yên Phú là một trong 5 thôn thuộc xã Liên Ninh, xã Liên Ninh là một trong 26 xã thuộc huyện Thanh Trì, phía Bắc và Đông Bắc giáp xã Yên Mỹ và xã Ngũ Hiệp; Tây Bắc giáp Ngọc Hồi; phía Nam, Đông Nam và Tây Nam giáp 3 xã Duyên Thái, Khánh Hà và Nhị Khê (huyện Thường Tín).

Trước năm 1945, Yên Phú là một xã thuộc tổng Linh Xá, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Sau này nhập là xã mới, lấy tên là Liên Ninh, vẫn thuộc Thanh Trì, Hà Đông. Năm 1961, khi tách phần lớn đất Thanh Trì nhập vào Hà Nội, thì xã Liên Ninh, thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (năm 1965 là Hà Tây, từ năm 1975 là Hà Sơn Bình). Từ năm 1975 đến nay Liên Ninh lại nhập vào huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội.

Trở lại những vấn đề lịch sử: vào những năm đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Nước Việt Nam ta lúc đó dưới ách thống trị tàn bạo của phong kiến phương Bắc. Hai Bà Trưng (Trưng Trắc, Trưng Nhị) đã dấy quân khởi nghĩa, đánh đuổi Tô Định giành độc lập lên ngôi xưng Trưng Nữ Vương.

Đây là cuộc khởi nghĩa có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử nước ta. Cuộc khởi nghĩa được người phụ nữ lãnh đạo lần đầu tiên thành công, giành độc lập dân tộc sau rất nhiều cuộc khởi nghĩa thất bại trong thời Bắc thuộc. Cuộc khởi nghĩa có phạm vi rất sâu rộng, được đông đảo quần chúng tham gia, từ các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ, Hợp Phố... và 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng.

Theo các nhà nghiên cứu dựa trên các nguồn tài liệu điền dã trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng có đến bảy chục tướng lĩnh, trong đó nhiều tướng lĩnh của nghĩa quân hiện nay còn được thờ làm thành hoàng làng ở miền Bắc nước ta. Đặc biệt, trong số này có nhiều nữ tướng của Hai Bà như:

- Thánh Thiên công chúa khởi nghĩa ở Yên Dũng, Bắc Giang, hiện được thờ ở Ngọc Lâm, Yên Dũng, Bắc Giang.

- Lê Chân nữ tướng miền biển, khởi nghĩa ở An Biên, Hải Phòng. Hiện được thờ ở Đền Nghè, An Biên, Hải Phòng.

- Bát Nạn tướng quân, tên thực là Thục Nương. Hiện được thờ ở Phượng Lâu, Phù Ninh, Phú Thọ và Tiên La, Hưng Hà, Thái Bình.

- Nàng Nội, nữ tướng vùng Bạch Hạc, khởi nghĩa ở Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ) được Trưng Vương phong là Nhập Nội Bạch Hạc Thủy công chúa. Hiện có đền thờ ở Việt Trì.

- Lê Thị Hoa, nữ tướng khởi nghĩa ở Nga Sơn, Thanh Hoá, được Trưng Vương phong làm Nữ tướng quân. Hiện có đền thờ ở Nga Sơn.

- Xuân Nương, Trưởng quản quân cơ. Khởi nghĩa ở Tam Nông, Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Nhập Nội trưởng quản quân cơ nội các. Hiện có đền thờ ở Hưng Nha, Tam Nông, Phú Thọ.

Ngoài các nữ tướng kể trên còn có các nữ tướng khác cũng được Hai Bà Trưng phong tướng trấn giữ các vùng ở miền Bắc như: Nàng Quỳnh, Hồ Đề, Đàm Ngọc Nga, Thiếu Hoa, Quách A, Vĩnh Hoa, Lê Ngọc Trinh, Lê Thị Lan, Phật Nguyệt, Phương Dung, Trần Nang, Tam Nương (Đạm Nương, Hồng Nương, Thanh Nương), Quý Lan, Bà Chúa Bầu...

Riêng tại Hà Nội trước đây, qua các cuộc điều tra điền dã các nhà nghiên cứu bước đầu đã phát hiện gần hai mươi vị tướng cả nam lẫn nữ, được thờ ở nội thành và ngoại thành, đó là:

- Ba anh em ruột họ Đào, ở ngay trung tâm kinh thành Thăng Long cũ, tại thôn Thổ Quan thuộc tổng Hữu Nghiêm huyện Thọ Xương, đã cầm đầu toàn nghĩa quân đi theo Hai Bà Trưng chống lại Mã Viên, ba vị tướng này nguyên quán ở Thanh Hoá , hiện được thờ ở đình Thổ Quan. Ngày nay ngoài tấm bia, đình Thổ Quan có nhiều câu đối minh hoạ sự tích và ca ngợi tinh thần yêu nước của nghĩa quân dưới sự chỉ đạo của ba vị tướng.

- Ba anh em Quách Lăng và Đinh Bạch Nương, Đinh Tĩnh Nương, ba người quê ở Hoa Lư, trang Ái Châu thuộc Ninh Bình đều là những vị tướng có tài võ nghệ. Được tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa, ba anh em từ Hoa Lư kéo quân lên Mê Linh để tham gia đánh đuổi Tô Định. Trên đường qua trang Thượng Cát, ba anh em đã tuyển thêm được nhiều nghĩa quân... Hiện nay xã Thượng Cát có đền thờ 3 vị làm thành hoàng làng.

Ngoài ra, tại Hà Nội còn có các vị tướng được thờ phụng như: Tướng Thành Công quê ở Hải Đông (Hải Dương), được thờ ở 5 thôn thuộc xã Cổ Loa, Gia Lâm. Ba vị tướng họ Đào vỗn quê ở Sơn Nam được thờ ở thôn Ngọc Động, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm. (Theo thần tích ở thôn Ngọc Động). Nàng Quốc ở Hoàng Xá mẹ vị tướng này vốn họ Đào quê ở Kiệt Đặc (Chí Linh, Hải Dương). Nàng Quốc đã chiêu mộ binh sĩ gia nhập nghĩa quân Hai Bà Trưng, đánh đuổi giặc Tô Định, tại Hoàng Xá có đền thờ bà. Ông Đông và ông Hựu ở Kim Hồ: nguyên hai ông quê ở Cự Ninh, Thanh Hóa, được bà dì họ Mặc người thôn Kim Đường (nay là Kim Hồ thuộc xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm) ông có sức khỏe và chí lớn, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, dựng đồn ở Kim Đường đóng góp vào chiến thắng của Hai Bà Trưng đánh giặc Tô Định, thu hồi 65 thành. Sau này hai ông mất trong một trận chiến đấu ác liệt với Mã Viện trên cánh đồng Kim Đường... và một số nhân vật khác như tướng Đông Bảng ở thôn Gia Lộc, Cổ Loa, tướng Thủy Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng được thờ ở thôn Gia Lộc, Cổ Loa. Tướng Thuỷ Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng được thờ ở thôn Đại Vĩ, xã Liên Hà, huyện Đông Anh. Đức bà làng Dâu hay công chúa Vĩnh Huy, nay được thờ làm thành hoàng ở làng Cổ Châu, thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh.

Huyện Thanh Trì nằm trên hữu ngạn Sông Hồng đã có một số vị được thờ tại 3 ngôi đình, chùa trên địa bàn huyện, là tướng Nguyễn Tam Trinh, Nàng Tía, nhà sư Phương Dung và hai người con nuôi của bà.

- Tướng Nguyễn Tam Trinh được thờ ở thôn Mai Động, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Thanh Trì. Thôn này ở sát ngay nội thành kinh đô Thăng Long cũ, giáp với trại Quỳnh Côi xưa kia thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương. Theo thần tích còn giữ tại làng, Nguyễn Tam Trinh sinh năm Canh Dần (năm 22 TCN), năm Tam Trinh 18 tuổi, bố mẹ đều mất, ông chăm chú đọc sách và dạy học, đào tạo được nhiều học trò giỏi. Vào thời đó Thái thú Tô Định làm nhiều điều càn rỡ. Hai Bà Trưng nổi dậy truyền hịch khắp nơi để tập hợp nhân tài, Tam Trinh nghe tin liền chiêu mộ binh lính hưởng ứng. Uy tín một thầy dạy học gương mẫu đã giúp ông thành công nhanh chóng, thanh niên trai tráng nô nức kéo đến dưới quyền chỉ huy của ông. Tam Trinh dẫn nghĩa quân theo về Bà Trưng và tham gia chiến dịch đánh đuổi Tô Định giành lại 65 thành cho đất nước. Bà Trưng lên làm vua, ông được phong tước và giữ chức phụ chính. Khi Mã Viện sang, Tam Trinh đang giữ miền Sơn Nam. Quân Hán tiến đánh, thế rất mạnh. Ông phái rút về Mai Động nhưng quân giặc bổ vây bốn phía. Ban đêm ông huy động quân sĩ phá vòng vây chạy ra ngoài. Khi nghe tin Hai Bà Trưng đã tuẫn triết, do quân sĩ bị thiệt hại nhiều, không đủ sức kháng cự, ông liền phi ngựa lên núi rồi hoá (ngày 10 tháng 2 âm lịch), về sau nhân dân Mai Động lấy ngày giỗ ông làm ngày tế thần, đồng thời cử hành hội vật, tương truyền đó là môn thể thao của quân sĩ Nguyễn Tam Trinh xưa. Ngôi đình thờ ông tại thôn Mai Động nay còn lưu lại đôi câu đối nhắc tới sự nghiệp ông, một vị tướng đã phò tá vua Trưng chống giặc Hán:

Phiên âm:

Đình tiền cổ mộc âm sâm, thụ sắc như thôi Tô Bắc khứ.

Từ ngoại hàn đàm thoan kích, thuỷ thanh do hận Mã Nam lai.

Dịch nghĩa:

Cây xưa trước đình đan cành, lá biếc như đuổi giặc Tô về Bắc.

Đầm lạnh ngoài nghe rợn sóng, nước reo mãi hờn quân Mã
sang Nam.

- Nàng Tía quê ở Vĩnh Ninh, xưa là trang Vĩnh Hưng (nay thuộc xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì). Trang Vĩnh Hưng có thời Hùng Vương, Truyền thuyết kể lại rằng nơi đây có hai vị tướng là hai anh em sinh đôi là ông Rắn và ông Đất còn có tên là Xà Công và Địa Công. Hai ông thường tham gia dẹp giặc thời vua Hùng. Đến thời Hai Bà Trưng hai ông đã âm phù trong trận đánh thắng Tô Định. Bà Trưng lên ngôi vua đóng đô ở Mê Linh, đi thăm nhiều nơi, trong đó có trang Vĩnh Hưng. Tại đây vua Trưng gặp cô gái 16 tuổi đang gánh nước. Thiếu nữ tên là Tía - một cô gái nổi tiếng là đảm đang trong thôn. Tương truyền bà mẹ đã nằm mộng được thần tặng hoa sen mà sinh ra. Thấy hình dáng xinh tươi nhanh nhẹn, vua hỏi chuyện và thấy rõ tài chí của cô gái trẻ, vua đưa về triều đình giúp việc và sau phong làm tướng. Nàng Tía chống lại quân Mã Viện trong nhiều trận. Sau khi Hai Bà thất trận, Nàng Tía vấn chiến đấu không ngừng. Trong một trận ác liệt tại Thần Phù, “Nàng đã hoá giữa cơn mưa gió nổi lên khiến đất trời mờ mịt” (ngày 13 tháng 11 Âm lịch).

Hiện nay tại thôn đình Vĩnh Ninh, cả ba vị thần đều được thờ, ở giữa Nàng Tía, bên trái là ông Rắn, bên phải là ông Đất. Làng còn có nghè ở xóm Giang bên cạnh chiếc giếng đánh dấu chỗ Nàng Tía lần đầu gặp vua Trưng, được vua ân cần hỏi chuyện và sau đó vời về triều phong cho làm tướng. Một trong những câu đối còn ghi ở đình thôn nêu sự nghiệp hiển hách của ba vị thần trong đó có nữ tướng tuổi trẻ Nàng Tía đã gan dạ chống lại quân Mã Viện:

Phiên âm:

Sinh ứng xương kỳ, hiệp tán Hùng gia song hiển thánh.

Triệu bằng tiền mộng, dực phù Trưng thế nhất anh thư.

Dịch nghĩa:

Thời thịnh đản sinh, phù triều Hùng hai ngôi hiển thánh.

Mộng xưa ứng triệu, giúp vua Trưng một vị anh thư.

Cùng trên địa bàn Thanh Trì, tại ngôi chùa Yên Phú, thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, xưa kia đã có những sự kiện nhân vật bổ sung vào trang vàng lịch sử của nước ta. Truyền thuyết dân gian lưu truyền ở địa phương và cuốn thần phả hiện còn lưu giữ trong chùa đã kể lại sự tích một vị sư nữ nêu cao tinh thần yêu nước, chống giặc phương Bắc, câu chuyện được kể như sau:

Vào thời đầu nhà Đông Hán, ở làng Lưu Xá, huyện Thư Hiền, phủ Nghĩa Hưng, Đạo Sơn Nam hạ có nàng Phương Dung, con gái út của ông Trương Công và bà Phùng Thị Huệ. Nàng là người có nhan sắc, phong tư yểu điệu có lòng ngưỡng mộ đạo phật.

Năm 16 tuổi, trên đường đến Thăng Long, tới địa đầu trang Yên Phú, huyện Thanh Đàm, phủ Thường Tín, Phương Dung thấy một ngôi chùa phong cảnh rất đẹp. Nàng nguyện ở lại chùa sớm hôm học đạo đèn nhang thờ phật.

Sau một năm tu hành niệm Phật, vào một đêm Phương Dung được thần báo mộng rằng sẽ có hai vị thủy thần xuất thế làm người. Sáng hôm sau, đi qua cửa miếu, Phương Dung thấy hai quả trứng to liền nhặt lấy đem về chùa. Sau nở ra hai chàng trai tướng mạo oai phong lẫm liệt. Người anh tên là Trung Vũ, còn người em tên là Đại Liệu. Cả hai đều học giỏi văn chương, tinh thông võ lược.

Thời ấy, vua Hán sai Tô Định đem quân sang quấy nhiễu xâm lược nước ta. Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, truyền hịch bốn phương kêu gọi anh tài hào kiệt ra sức giết giặc cứu nước. Nghe tin Phương Dung cùng Trung Vũ và Đài Liệu bàn định kế hưởng ứng lời hiệu triệu của Bà Trưng. Chỉ trong một ngày họ đã chiêu mộ được mấy ngàn binh lính rồi truyền lấy 25 tráng đinh của trang Yên Phú cho làm gia thần giúp việc. Sau đó, Phương Dung cùng Trung Vũ và Đài Liệu lệnh cho quân sĩ lên đường tới Hát Môn tụ nghĩa cùng quân của Hai Bà Trưng và nguyện giết giặc trả nợ nước. Bà Trưng cho hai anh em làm Tả, Hữu tướng quân và chia đường diệt giặc Tô Định. chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân của Hai Bà Trưng đã đánh tan đội quân xâm lược do Tô Định cầm đầu, thu phục lại 25 thành.

Sau khi thắng trận, Bà Trưng lên ngôi vua và ban tước lộc khao thưởng cho các tướng sĩ có công. Nhà vua phong cho Phương Dung làm công chúa, Trung Vũ làm chỉ huy sứ Tả tướng quân và Đài Liệu làm chỉ huy sứ Hữu tướng quân. Sau đó cho 3 người về thăm quê là làng Yên Phú. Nhà vua lại sai dân sửa sang chùa miếu để sau này thờ phụng Phương Dung cùng Trung Vũ và Đài Liệu. Lại ban cho dân Yên Phú 300 mẫu ruộng và miễn tất cả phu phen tạp dịch.

Và 3 người đều mất vào một ngày. Đó là ngày 7 tháng 11 Âm lịch.

Lại có truyền thuyết rằng, vào một năm trời làm đại hạn, cây cỏ, lúa má đều cháy trụi. Trung Vũ, Đài Liệu truyền sai bày đàn kêu trời đất, khấn vái một hồi thì bỗng thấy trời đất mịt mù tối tựa ban đêm rồi mưa to, gió lớn, sấm chớp đùng đùng, hồ ao ruộng nước mưa ngập tràn, lúa má cây cỏ hồi sinh. Năm ấy dân trang Yên Phú được mùa lớn và cũng từ đây dân trang được an cư lạc nghiệp, lấy nhân đức để báo đền công lao của hai vị.

2. Và một số vấn đề về khởi nguyên Phật giáo Việt Nam

Với hàng trăm nhân vật chúng tôi nêu ra ở phần trên được rút ra từ những tư liệu dựa trên thần tích phối hợp với truyền thuyết địa phương, điều đó cho thấy cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng có quy mô rất lớn, được đông đảo quần chúng ủng hộ trên một phạm vi rất rộng 65 thành ở Lĩnh Nam, từ các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ, Hợp Phố... trong đó có nhà sư Phương Dung tu hành ở chùa Yên Phú cùng hai người con nuôi, tập hợp 25 thanh niên làng Yên Phú tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng góp phần đánh đuổi Thái thú Tô Định.

Trong một số thần tích cho thấy, có mối quan hệ giữa nhân vật chính với thần nước, thần đất. Từ đó cho chúng ta cảm nhận được rằng từ xưa đã có mối giao hòa giữa Phật giáo với tín ngưỡng nguyên thuỷ ở nước ta.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ngay từ ban đầu đã thu hút được rất nhiều nhân vật tài năng tham gia, trong đó tỷ lệ nữ tướng rất cao. Dù những tư liệu được rút ra từ những văn bản thần tích thần sắc, song những truyền thuyết kể trên có những hạt nhân hợp lý dựa trên các bộ chính sử của nước ta và Trung Hoa. Tỷ lệ phụ nữ tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng khá cao, cho chúng ta một cảm nhận về vai trò của Nho giáo lúc này ít ảnh hưởng tới vùng Lĩnh ngoại, tại các quân Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ, Hợp Phố...

Về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam là vấn đề đã được nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập tới. Phật giáo truyền vào nước ta khá sớm có thể từ thế kỷ III TCN với Phật Quang là người truyền đạo đầu tiên, trong những phái đoàn truyền giáo của Hoàng đế Ashoka (A Dục), Chử Đồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên. “Để đến những năm 43 SCN, khi Hai Bà Trưng thất trận, một trong nữ tướng của Hai Bà là Bát Nàn phu nhân đi xuất gia), theo như truyền thuyết của dân gian đã có, ít nhất vào năm 100 sau Tây lịch Phật giáo đã hiện diện với tư cách một bộ phận tín ngưỡng đầy quyền uy đến nỗi dân ta đã trồng một thứ hoa để thờ Phật gọi là Uất kim cương” (theo Nghiên cứu về Mâu Tử của Lê Mạnh Thát).

Từ truyền thuyết dân gian ở địa phương và cuốn thần phả lưu giữ tại chùa Yên Phú, cho chúng ta biết tới một vị nữ tướng Phương Dung, với nghĩa lớn cùng hai người con nuôi tập hợp trai tráng làng Yên Phú tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng, trở thành một nữ tướng tài danh góp phần đánh giặc Hán.

Sau này trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, chống giặc ngoại xâm, khu vực làng Yên Phú và chùa Yên Phú đã có nhiều đóng góp tích cực cho đất nước. Phật giáo với mục đích là cứu con người thoát khỏi nỗi khổ muôn đời, với cứu cánh là giải thoát nên từ nền tảng tư tưởng đó đã giúp cho Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc, nêu cao chủ nghĩa yêu nước chống giặc ngoại xâm.

Có nhà nghiên cứu còn cho rằng “Bán đảo Đông Dương tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ không phải bắt đầu từ Phật giáo. Tại Luy Lâu kẻ đến đầu tiên là Kỳ Na Giáo ( Jaina).... rồi sau hoặc đồng thời là Bà la môn giáo, Ấn Độ giáo, cuối cùng là Phật giáo”. Nhưng ở đây chúng ta lại thấy rằng: Vào thời kỳ đầu dựng nước, dân tộc Việt đã chọn Phật giáo làm tôn giáo chính, bởi lẽ Phật giáo mang theo cách hành xử thiết thực và tích cực hơn so với các giáo phái khác. Chủ nghĩa yêu nước ở thời kỳ này cũng mang màu sắc Phật giáo nhiều hơn.

Trên đây là những suy nghĩ bước đầu của nhúng tôi về ngôi chùa Yên Phú và một vài vấn đề Phật giáo Việt Nam.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2004

2. Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam. Tập I, Nguyễn Hùng Hậu. Nxb. KHXH, H. 2002.

3. Thiền học Việt Nam. Nguyễn Đăng Thục. Nxb. Thuận Hóa.

4. Đạo Phật Việt Nam. Thích Đức Nghiệp. Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh.

5. Hồ sơ di tích lịch sử chùa Yên Phú. H. 1987

6. Hà Nội xưa và nay. Vũ Tuân Sán. H. 2008./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.747-756)

Nguyễn Ngọc Nhuận
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm