67. Việt âm thi tập - Một công trình biên tập khảo chứng công phu của người xưa (TBHNH 2012)
VIỆT ÂM THI TẬP - MỘT CÔNG TRÌNH BIÊN TẬP,
KHẢO CHỨNG CÔNG PHU CỦA NGƯỜI XƯA
NGUYỄN THỊ OANH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1. Quá trình nghiên cứu và lịch sử vấn đề
Việt âm thi tập (VATT) là tuyển tập thơ văn thời Trần - Hồ đầu tiên ở nước ta do Phan Phu Tiên biên tập vào năm Quý Sửu niên hiệu Thuận Thiên (1433) đời vua Lê Thái Tổ. Theo bài Tựa của Phan Phu Tiên viết lúc bộ sách sắp hoàn thành cho biết, ở nước ta từ các đời trước, các bậc vua chúa, các quan công khanh và sĩ đại phu, ai cũng có tập thơ lưu hành ở đời, song do binh lửa nên đã mất hết, Phan Phu Tiên đã không tiếc công sức sưu tầm, biên tập thành sách lấy tên là "Việt âm thi tập". Lý Tử Tấn trong bài Tựa viết cho lần in sách đầu tiên vào năm Diên Ninh thứ 6 (1459) đã cho biết, khi sách biên soạn xong, chuẩn bị đưa khắc in thì Phan Phu Tiên phải đi nhậm chức "Phủ sứ" ở tỉnh ngoài nên việc khắc in không thực hiện được. Người tiếp bước con đường họ Phan đã đi là ông Chu Xa, giữ chức Thị Ngự sử dưới thời vua Lê Thái Tổ. Trong 13 năm, ông họ Chu không chỉ sưu tầm rộng thêm thơ của các vị làm quan tại triều và những người ở nơi thôn dã, mà còn thu thập thêm thơ của người Nam làm việc tại Bắc quốc (Trung Quốc) và người Bắc quốc (Trung Quốc) làm việc tại nước Nam mà ông Phan chưa sưu tập, gộp lại thành tập, gồm hơn bảy trăm bài, biên tập xong, ông nhờ Lý Tử Tấn phê duyệt và cho khắc in, và sách đã được in xong vào năm Kỷ Mão niên hiệu Diên Ninh thứ 6 (1459) đời vua Lê Nhân Tông. Bản in năm 1459 hiện nay không còn, song theo các nhà nghiên cứu đi trước, bản VATT hiện còn giữ được là bản sách in lại vào năm Kỷ Dậu niên hiệu Bảo Thái thứ 10 (1729) đời vua Lê Dụ Tông, hiện lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.1925. Theo mục lục, toàn sách gồm 6 quyển, hiện chỉ còn 3 quyển và Phụ di, gồm 288 bài thơ và văn của 49 tác giả có tên và 6 bài thơ khuyết danh, sách in, khổ 16 x 24, có 68 tờ, trang 10 dòng, mỗi dòng khoảng 22 chữ.
Sau khi được tái bản vào năm 1729, VATT đã được các học giả Lê Quý Đôn (1726-1784) và Phan Huy Chú (1782-1840) giới thiệu vắn tắt trong Đại Việt thông sử(1) và Lịch triều hiến chương loại chí(2). Đầu thế kỷ XX, học giả Trần Văn Giáp trong cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam đã khảo cứu và đưa ra nhận xét chi tiết: [Bản VATT, ký hiệu A.1925] "Tuy không phải là bản in đầu tiên của sách này, nhưng bản sách đó cũng thuộc vào loại những bản in cổ nhất trong kho sách Hán Nôm hiện còn ngày nay" và “Sách Việt âm thi tập còn lại hiện nay chỉ có thơ đời Trần, đời Hồ. Trừ các vua, sau mỗi thi gia và sau đề mục mỗi bài soạn giả có chua tiểu truyện nhà thơ và sau đề mục mỗi bài cũng có chua điển tích. Đó là một vốn cổ quý giá, không những về thơ văn, nó cũng là một tài liệu hiếm quý về cả sử học. Thí dụ, nó cho ta biết đích xác kỹ thuật in sách khắc ván gỗ của ta đã thấy xuất hiện từ đầu thế kỷ XV, mà có lẽ còn trước đó từ lâu. Ngoài ra còn nhiều sự việc khác có liên quan đến sử học Việt Nam và Trung Quốc. Những lời chú dẫn phần lớn là những tài liệu quý cho sử học”(3). GS. Nguyễn Huệ Chi trong phần Khảo luận bộ sách Thơ văn Lý-Trần (1976) cũng đã nhận xét: “người in lại đã cố trung thành với bản in của thế kỷ XV. Sách không có một bài tựa nào mới mà chỉ có một đoạn tiểu dẫn đề năm Kỷ Dậu, Bảo Thái thứ 10 (1729), hơn nữa, không có tên người nào đề ở dưới. Chứng tỏ người viết tiểu dẫn tự xét mình chỉ đơn thuần đóng vai trò "in lại", chứ không bổ sung thêm thắt được gì hơn. Trật tự sắp xếp trong sách cũng cho ta ấn tượng bản trùng san không phá hoại kết cấu vốn có. Thậm chí ở bài Tựa đầu sách của Phan Phu Tiên, có lẽ vì giấy bị rách mà thiếu mấy đoạn, người in cũng tôn trọng để cách ra từng dòng. Từ đó, có thể nói, mục lục 617 bài của bản trùng san không khác với mục lục bản in lần đầu”(4).
VATT cũng được giới thiệu khái quát trong các bộ sách như: Di sản Hán Nôm Việt Nam - thư mục đề yếu do Giáo sư Trần Nghĩa, Giáo sư François Gros đồng chủ biên; Bộ sách Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục lục đề yếu 越南漢喃文獻目錄提要, do Sở nghiên cứu văn triết Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Trung ương biên tập và xuất bản. Ngoài ra Từ điển văn học (bộ mới) do Nxb. Thế giới ấn hành vào năm 2004 cũng đã dành một mục để giới thiệu về bộ sách Việt âm thi tập.
Về vấn đề văn bản VATT, ngoài hai công trình của Trần Văn Giáp và Nguyễn Huệ Chi, người sớm công bố bài viết nghiên cứu có liên quan đến văn bản VATT phải kể đến bài viết của Nguyễn Thị Oanh, đăng trên Thông báo Hán Nôm học 2002(5)với nhan đề: Môn tâm hay Môn la. Từ chỗ phân tích, so sánh cách dùng từ “Môn tâm” trong Đại Việt sử ký toàn thư và “Môn la” trong VATT tác giả đã cho rằng người biên tập VATT đã có lí trong việc giữ nguyên từ “Môn la” và không đồng tình với việc dùng từ “Môn tâm” của sách Đại Việt sử ký toàn thư. Tuy nhiên, do mới chỉ dừng ở mức phê phán một trường hợp cá biệt, chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện văn bản VATT, nên những kết luận của tác giả bài viết chưa thực sự thuyết phục người đọc. Tiếp đó là Nguyễn Thanh Tùng với bài: Phát hiện mới về văn bản Việt âm thi tập cũng được đăng tải trên Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.496-508). Trong bài viết này tác giả đã giới thiệu bản Việt âm thi tập mang kí hiệu R.1629 hiện được lưu giữ tại thư viện Quốc gia Việt Nam. Trên cơ sở mô tả, thống kê số lượng tác giả, tác phẩm, lệ kiêng húy… tác giả đã đưa ra nhận định “sách phải chép vào đời Nguyễn”(6).
Công trình mang tính chuyên luận cao về VATT phải kể đến khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu văn bản Việt âm thi tập của sinh viên Nguyễn Mạnh Sơn. Trong khóa luận này, tác giả đã thu thập tất cả các dị bản của VATT, trên cơ sở thống kê, đối chiếu giữa các dị bản, tiến hành khảo sát chữ húy, từ đó chỉ ra được niên đại của từng văn bản. Qua so sánh sự thay đổi giữa bản in VATT với các dị bản về câu chữ và các chú thích giữa các dị bản, tác giả đã cho thấy phần nào sự tùy tiện của người sau trong khi sao chép VATT và mong muốn các nhà nghiên cứu cần phải thận trọng khi lựa chọn văn bản để nghiên cứu, dịch thuật và công bố.
Thực tế, từ năm 2005, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu văn bản VATT với tư cách là công trình cấp Viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài cá nhân (tác giả của bài viết này), có sự tham gia giúp đỡ của sinh viên Nguyễn Mạnh Sơn (tác giả của khóa luận vừa trình bày trên). Đáng tiếc, do nhiều nguyên nhân công trình bị gián đoạn, và cho đến năm 2011-2012, trong công trình Lê sơ, chúng tôi đã đăng ký tiếp tục hoàn thành công trình VATT và sau hai năm triển khai thực hiện, cho đến nay công trình đã hoàn thành và chuẩn bị đưa ra xuất bản.
VATT không xa lạ với các nhà nghiên cứu, bởi hầu hết thơ của các tác giả trong VATT đã được công bố. Tuy nhiên, từ trước đến nay, ngoài khóa luận của Nguyễn Mạnh Sơn, hầu hết các công trình nghiên cứu dịch công bố, xuất bản liên quan đến VATT, việc nghiên cứu về văn bản chưa quan tâm đúng mức. Bản in VATT, ký hiệu A.1925 cho đến nay vẫn chỉ được biết qua lời giới thiệu vắn tắt của các học giả và nhà nghiên cứu đi trước. Việc nghiên cứu và công bố trọn vẹn VATT với tư cách là một “biệt tập”, một tác phẩm “cổ nhất trong kho sách Hán Nôm” vẫn chưa được tiến hành. Thậm chí toàn bộ phần khảo dị, chú thích công phu của các tác giả biên tập sách này trước khi đưa "trùng san" hầu như chưa được đánh giá, giới thiệu đầy đủ. Sự tùy tiện thay đổi câu chữ, ngay cả đối với bản in A.1925 khi dịch và công bố ở một số công trình nghiên cứu về thơ văn Lý-Trần thực sự đã để lại nhiều tiếc nuối cho người sau.
Bài viết này chúng tôi trình bày về cách biên tập, khảo cứu của các tác giả biên tập VATT trước khi đưa in vào năm 1729. Đây là một phần kết quả sau nhiều năm nghiên cứu của chúng tôi, hy vọng có thể đem lại một cách nhìn mới đối với một tác phẩm không xa lạ với các nhà nghiên cứu.
2. Về niên đại sách Việt âm thi tập
Sau khi xem xét sách VATT, ký hiệu A.1925, chúng tôi cũng phát hiện thêm một số chứng cứ nhằm khẳng định thêm bản in năm 1729 là bản in lại bản in VATT năm 1459, đúng như nhận định của các nhà nghiên cứu đi trước. Cụ thể như sau:
Thứ nhất: ngoài một số đoạn trong bài Tựa của Phan Phu Tiên có thể do rách từ bản in năm 1459, trong sách còn một số chỗ có thể do bị rách nên mất chữ, như trường hợp bài Xuân nhật nhàn tọa, thơ của vua Trần Minh Tông, câu "Phiên đắc [] thiên kim, trước chữ "thiên", sau chữ "đắc" mất một chữ. Chữ "nhất" là chữ bút đỏ, do người sau chua vào. Hay trong thơ của vua Trần Anh Tông, bài Đông cảnh (Cảnh mùa đông), câu "Kỷ độ bích đào [] kết thực" giữa chữ "đào" và chữ "kết" mất một chữ.
Thứ hai: bản in năm 1459 lưu giữ các chữ húy thời Lê sơ (7), như chữ: “Trần” kiêng húy Cung Từ quốc thái mẫu (tờ 1a); chữ "Anh” kiêng húy Hoàng thái hậu (tờ 6a); chữ "Long" (tờ 10b, q.2), kiêng húy vua Lê Thái Tổ. Các chữ này đều viết theo kiểu thêm bộ 4 nét gãy <<<<, hay 3 nét gãy <<<. Theo PGS.TS. Ngô Đức Thọ, ở đời Trần chưa có kiểu viết chữ húy bằng cách thêm bộ 4 nét, hoặc 3 nét gẫy; những chữ này chỉ "thường thấy từ đời Lê về sau". Ngoài ra chữ "Trần" còn có viết kiêng húy bằng cách đổi "Trần" thành "Trình" (lệnh kiêng húy do vua Lê Thái Tông ban hành vào năm 1435). Với các chữ húy thời Lê sơ còn thấy trong bản in năm 1729, chúng ta đã có thêm bằng cớ để xác định bản VATT A.1925 được in lại từ bản in năm 1459.
Thứ ba: trong phần chú thích (chữ in nhỏ so với phần chính văn) đã xuất hiện hai lần chữ "ấn bản" (bản in). Trong bài Hạnh Thiên Trường phủ (Chơi hành cung Thiên Trường) của vua Trần Nhân Tông có câu: “Kim niên du thắng tích niên du” (Cuộc du chơi năm nay hơn hẳn cuộc du chơi năm trước), sau chữ "tích" có chú thích: "ấn bản tác cựu" (bản in chép là "cựu") (tờ 3b, q.1); Hay trong bài thơ vịnh sử Hán Vũ Đế 漢武帝(Vua Hán Vũ đế) thơ của vua Trần Anh Tông có câu câu: "Đạo Tần phúc triệt bất Tần băng 蹈秦覆轍不秦崩 (Dẫm theo vết đổ của nhà Tần mà không sụp đổ như nhà Tần), sau chữ "phúc" có chú "ấn bản tác họa" (bản in khắc là "họa") (tờ 7b,q.1). Điều này cho thấy, đến thời điểm trùng san sách VATT, các nhà biên tập đã có trong tay bản in năm 1459 (cho dù hiện nó chỉ còn có 3 quyển đầu).
3. Về phong cách biên tập
- Thứ nhất: phong phú về số lượng nguyên chú
Bản VATT in năm 1729, ngoài việc in lại gần như nguyên vẹn toàn bộ số thơ của các tác giả thời Trần-Hồ, tác phẩm còn là một công trình biên tập, chú thích, chú giải, khảo chứng khá công phu của các tác giả biên tập sách này trước khi đưa "trùng san".
Theo thống kê của chúng tôi, ở bản in VATT năm 1729 có khoảng 262 trường hợp nguyên chú. Ngoài 32 trường hợp có đề chữ "Phê" do Lý Tử Tấn phê điểm và một trường hợp ghi "cựu chú" trong bài thơ Đông sơn tự hồ thượng lâu (Lầu trên hồ chùa Đông Sơn), thơ của Phạm Sư Mạnh (tờ 15b, q.3), có thể hiểu là chú thích của bản in năm 1459, 230 trường hợp còn lại có thể là chú thích của người biên tập bản in năm 1729. Sở dĩ chúng tôi có thể mạnh dạn đưa ra nhận định như vậy bởi trong rất ít (hai lần) thay đổi ở phần chính văn và một lần ở phần chú thích, tác giả biên tập đã chú thích rất cẩn thận, cho thấy ở phần chính văn, tức toàn bộ số thơ của các tác giả Trần-Hồ gần như không có sự thay đổi so với bản in năm 1459. Tuy nhiên, không phải tác giả "sao y bản chính", không có dụng công gì trong lần in này, trên cơ sở thu thập được nhiều tư liệu và sách vở có trong tay, tác giả đã đối chiếu, so sánh, khảo cứu kỹ càng, thích âm, thích nghĩa và khảo dị cho hơn hai trăm trường hợp. Trong đó có: 101 trường hợp chú thích các nhân danh, địa danh, điển cố; 85 trường hợp khảo dị; 20 trường hợp chú thích có liên quan đến sách sử (tức Đại Việt sử ký toàn thư, viết tắt là ĐVSKTT); 22 trường hợp giải thích nghĩa từ; 9 trường hợp chú âm đọc.
- Thứ hai: nhất quán trong quan điểm biên tập
Xem xét cách hiệu chỉnh, hiệu khám sách VATT, chúng tôi cho rằng tác giả biên tập sách VATT tuy không thể hiện quan điểm của mình bằng lời tựa, bạt khi biên tập lại sách này để đưa in, song qua các chú thích của sách VATT có thể thấy thái độ tôn trọng văn bản, không tùy tiện sửa chữa văn bản của tác giả. Ví dụ, trong bài Đề quân ngư triều lí đồ 題群魚朝鯉圖(Đề bức tranh bầy cá chầu cá chép) của tác giả Chu Đường Thương (tờ 13a, q.3), sau hai chữ "hú mạt" trong câu "Sâm si hạnh thái tương hú mạt" 參差荇菜相昫沫(Bên đám rau hạnh nhấp nhô, bầy cá phun bọt cho nhau), tác giả biên tập chú: "hú hú thông dụng"昫昫通用(chữ "hú hú" thông dụng hơn)... Tuy chú như thế song tác giả vẫn giữ nguyên chữ trong chính văn, không sửa theo chữ mình cho là đúng.
Trong số 85 trường hợp khảo dị, tác giả đều giữ lại từ ngữ của bản in mà không sửa theo dị bản. Ví dụ: bàiHạnh Thiên Trường phủ 幸天長府(Chơi hành cung Thiên Trường), thơ của vua Trần Nhân Tông, có 3 trường hợp thay đổi từ ngữ (các chú thích số 17, 18, 19) so với quốc sử, nhưng tác giả vẫn tôn trọng từ ngữ của bản in, không tự tiện thay đổi. Thậm chí tác giả còn tỏ ý phê phán cách dùng từ không đúng ở quốc sử. Ví dụ: bài thơ Tống Phạm Sư Mạnh Bắc sứ 送范師孟北使(Tiễn Phạm Sư Mạnh đi sứ phương Bắc) của Lê Bá Quát,có câu朝中使者天邊客Triều trung sứ giả thiên biên khách (Sứ giả của triều đình là khách nơi chân trời), tác giả biên tập sau khi so sánh với quốc sử đã chú như sau: Sử tác “yên ba” phi 史作煙波非(Sử chép thành "yên ba" là sai) (17a,q.3). “Thiên biên” có nghĩa như “thiên nhai” (nơi chân trời, miền đất xa xôi). Thơ Đỗ Phủ, tập Thiên biên hành có câu: “Thiên biên lão nhân quy vị đắc, Nhật mộ đông lâm đại giang khốc”(Tạm dịch: Ông già ở nơi chân trời xa xôi không về được. Buổi chiều đi tới khóc ở phía đông con sông lớn)(8). Còn “yên ba” (khói nước), thường dùng để chỉ mặt nước sương khói giăng trùm(9), thường được ví với nơi ở của những người ẩn dật, không có nghĩa chỉ nơi xa xôi. Lê Bá Quát đã dùng từ “thiên biên khách” (khách nơi chân trời), để để ví những người đi sứ phải xa quê hương, đồng thời thể hiện sự cảm thông của tác giả về sự cô đơn, vất vả khi phải sống nơi đất khách quê của những người đi sứ. Sự phê phán của người biên tập sách VATT đã cho thấy khả năng cảm thụ từ ngữ, biết cách phân biệt các trường hợp đúng, sai và không ngần ngại đưa ra những ý kiến thẳng thắn về những trường hợp “sửa chữa lời thơ” của quốc sử.
Ví dụ thứ hai, đó là bài thơ Xuân vãn 春 晚của Trần Nhân Tông. Bài thơ phiên âm như sau: Thụy khởi khải song phi 睡 起 啟 窗 扉, Bất tri xuân dĩ quy 不 知 春 已 歸, Nhất song bạch hồ điệp一 雙 白 蝴 蝶, Phách phách sấn hoa phi 拍 拍 趁 花 飛.
Tuy cùng một nội dung, nhưng bài thơ cho đến nay đã có hai bản dịch khác nhau. Bản của các tác giả Lê Thước, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Lê Nhân, Vũ Đình Liên trong Hoàng Việt thi văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích, mục giới thiệu thơ Trần Nhân Tông đã dịch là: "Cuối xuân: Ngủ dậy mở cánh cửa sổ, Không biết xuân đã qua hết rồi. Một đôi bươm bướm trắng, Cánh đập đập lượn tìm hoa". Dịch thơ: "Ngủ dậy mở cửa sổ, Chẳng hay xuân đã chầy, Một đôi bươm bướm trắng, Phất phới lướt hoa bay"(10). Trong khi đó các tác giả bộ Thơ văn Lý-Trần đã lấy tiêu đề "Xuân hiểu" (Buổi sáng mùa xuân) và dịch nghĩa, dịch thơ như sau: "Ngủ dậy mở cánh cửa sổ, Không ngờ mùa xuân đã về. Một đôi bướm trắng, Phần phật cánh, bay đến với hoa". Dịch thơ: ngủ dậy, mở cửa sổ, A, xuân về rồi đây. Kìa một đôi bướm trắng, Nhằm hoa phơi phới bay"(11).
Trước hết, về bài thơ này, VATT và Hoàng Việt thi tuyển A.608 và TVTL A.132 (VHN) đều ghi là "vãn" (các bản TVTL A.1262, A.3200 không chép bài thơ này). Chữ "hiểu" được chua thêm sau chữ "vãn" trong bản VATT được coi như một khảo dị. Người biên tập sách VATT đã giữ nguyên chữ “vãn” (buổi chiều) mà không dùng chữ “hiểu” (buổi sáng).
Sở dĩ tác giả biên tập để nguyên "Xuân vãn" (Buổi chiều mùa xuân) như nó vốn có trong các bản, bởi chúng ta đã biết, vào mùa xuân, tháng Giêng, Hai tiết trời nhiều ngày vẫn lạnh và âm u, sang tháng Ba trời ấm dần, lúc đó bướm mới xuất hiện. Hình ảnh đôi bướm trắng phấp phới bay bên hoa đã cho chúng ta biết thời điểm tác giả làm bài thơ này vào dịp cuối xuân. Chữ "quy" trong câu “Bất tri xuân dĩ quy” có nghĩa là "trở về", cũng có nghĩa là "đã qua, đã hết". Thời điểm bướm xuất hiện tức "xuân đã qua" nên chữ "quy" nên hiểu theo nghĩa thứ hai. Chữ "vãn" có nghĩa là "muộn, cuối", cũng có nghĩa là “buổi chiều”. Người Việt có tập quán dậy sớm để làm việc. "Thức khuya dậy sớm" cần cù chăm chỉ cũng là nét đẹp trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người dân. Nghỉ trưa cũng là thói quen nhằm tránh nắng nóng hoặc giữ sức cho công việc buổi chiều. Có lẽ mọi sinh hoạt trong cung đình cũng không nhiều ngoại lệ so với cuộc sống ở nơi thành thị hay thôn dã(12).
Chữ "vãn" ở đây đã được tác giả sử dụng rất khéo, vừa cho biết đây là thời điểm "cuối xuân", vừa có thể hiểu thời điểm hai, ba giờ chiều sau giấc nghỉ trưa. "Ngủ dậy mở cửa sổ, Chẳng hay xuân đã chầy". Mùa xuân trôi qua nhanh trong sự thảng thốt của tác giả, càng ngỡ ngàng hơn khi nắng ấm bừng lên, bên hoa dập dờn đôi bướm trắng. Khoảnh khắc hồn nhiên đáng yêu ấy đã được tác giả chớp lấy, ý thơ chợt ùa về, thường ngày bận rộn với biết bao công việc triều chính, lo lắng cho nước cho dân, chẳng có nhiều thời gian để ngắm nhìn cảnh vật xung quanh, cho đến khi bình tâm nhìn lại, xuân đã trôi qua từ bao giờ mà chẳng biết.
Như vậy, chữ “vãn” trong trường hợp này không chỉ cho thấy sự sắc sảo trong việc lựa chọn từ ngữ của bản chính văn của tác giả biên tập, nó cũng cho thấy thời điểm tác giả làm bài thơ vào buổi chiều là hợp lý và logic.
- Thứ ba: công phu trong việc chú thích điển cố
Không chỉ đưa ra sự phê phán, tác giả biên tập còn dụng công trong việc chú thích từ khó, điển cố, giúp người đọc nắm bắt được ý tứ của câu thơ. Ví dụ trong bài Vãn Pháp loa tôn gia đề Thanh Mai tự 挽法螺尊者題清梅寺 (Viếng Pháp Loa tôn giả nhân đề ở chùa Thanh Mai) (tờ 6b) của tác giả vua Trần Nhân Tông có câu:“Thanh sơn mạn thảo quan tàng lý 清山蔓草棺藏履(Chiếc dép cất trong quan tài dưới đám cỏ rậm trên đỉnh non xanh). Ba chữ “Quan tàng lí” được tác giả chú thích như sau: “Đạt ma niết bàn hậu Tống Vân sứ Tây vực tái ngộ ư Thông Tử lĩnh, kiến thủ trì chích lý, vấn chi viết Tây thiên khứ. Cập hoàn ngôn ư Ngụy đế, tức lập khởi quan duy chiếc lý tại yên” 達磨涅槃後宋雲使西域再遇於匆?子嶺見手持隻履問之曰西天去及還言於魏帝即令起棺惟隻履在焉(Sư Đạt Ma đã về cõi Niết Bàn, nhưng Tống Vân khi đi sứ Tây Vực lại gặp ông ở núi Thông Tử, trong tay cầm một chiếc dép, mới hỏi ông [đi đâu], ông trả lời: "Đi Tây Thiên". Khi trở về Tống Vân bèn đem chuyện đó thưa lại với Ngụy đế. Ngụy Đế lập tức ra lệnh cho mở nắp quan tài thì chỉ thấy còn một chiếc dép ở trong đó).
- Thứ tư: dụng công trong việc chú thích địa danh và sự kiện lịch sử
Việc chú thích địa danh có tác dụng giúp người đọc hiểu biết hơn về địa điểm ra đời của bài thơ. Ở sách VATT các đoạn dẫn viết rất ngắn nhưng cũng cung cấp thêm một số thông tin mà các sách sau này hầu như không nhắc tới. Ví dụ, sau nhan đề bài thơ Đông Sơn tự 東山寺(Chùa Đông Sơn)có đoạn dẫn sau: “Tại Ý Yên huyện, Chương Sơn thượng. Lý triều sở sáng. Đông Triều diệc hữu chi” 在懿安縣彰山上李朝所刱東潮亦有之(Chùa ở trên núi Chương Sơn, huyện Ý Yên, do triều Lý xây dựng. Ở Đông Triều cũng có chùa Đông sơn) (tờ 6b).
Theo Đại Nam nhất thống chí, huyện Ý Yên(13) là 1 trong 6 huyện của châu Trường Yên thời thuộc Minh. Trải qua các thời Trần, Lê, Nguyễn địa danh châu Trường Yên đã có sự thay đổi trong việc chia tách, sát nhập, đặt lại tên các huyện trong châu này, nhưng về cơ bản cho đến đời Nguyễn hai phủ Trường Yên và Thiên Quan cùng 6 huyện Yên Mô, Yên Khang, Gia Viễn, Yên Hóa, Phụng Hóa, Lạc Thổ vẫn thuộc Thanh Hoa ngoại trấn (các địa danh trên đều thuộc một phần của tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa)(14). Cũng theo Đại Nam nhất thống chí, núi Đông Sơn, còn gọi là núi Trường Sơn, tức là núi Long Hạm (Hàm Rồng)(15), nay thuộc Thanh Hóa. Tên núi “Chương Sơn” theo chú thích của VATT rất gần với âm núi “Trường Sơn”. Cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa tra cứu được ngọn núi Chương Sơn liệu có phải ngọn Trường Sơn như sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép hay không, song theo văn bia huyện Đông Sơn, đến thời Nguyễn, ở tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa (nay thuộc Thanh Hóa) có làng gọi là Đông Sơn. Hiện ở làng Đông Sơn vẫn có chùa Phật(16). Không rõ chùa làng Đông Sơn có liên quan đến tên gọi chùa Đông Sơn trong sách VATT hay không, nhưng theo chú thích của người biên tập, chúng ta có thể suy đoán ngôi chùa nằm ở trên núi Đông Sơn, thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa ngày nay.
Ngoài ra, trong VATT còn có bài Đông sơn tự hồ thượng lâu 東山寺湖上樓(Lầu trên hồ chùa Đông sơn) thơ của Phạm Sư Mạnh nhắc đến địa danh “Đông Sơn tự” (chùa Đông Sơn). Sau nhan đề bài thơ có dòng nguyên chú: cựu chú Hựu Thánh thái sư bình Chiêm thành. Kim khảo sử hữu Tá Thánh thái sư Trần Nhật Duật, vô Hựu tự 舊注佑聖太師平占城今考史有佐聖太師陳日燏無佑字(Bản cũ chú Hựu Thánh Thái sư đi đánh giặc Chiêm thành. Nay khảo trong sử có nói đến Tá Thánh Thái sư Trần Nhật Duật, không có chữ "Hựu") (15b,q.3).
Qua chú thích trên, chúng ta cũng biết thêm khu vực xung quanh chùa Đông Sơn, trong đó có núi Đông Sơn (tức núi Hàm Rồng) và núi Hỏa Châu (đối điện với núi Hàm Rồng) là những địa điểm các vua Trần thường hay thăm viếng. Theo Đại Nam nhất thống chí, thời Lê “vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông thường lên núi thưởng ngoạn có làm thơ khắc vào đá đến nay vẫn còn”(17).
Hay sau nhan đề bài Đề Phổ Minh tự thủy tạ 題普明寺水榭 (Đề nhà thủy tạ chùa Phổ Minh) thơ của vua Trần Nhân Tông cũng có lời dẫn như sau: Trần Thái Tông hạnh Tức Mặc sáng Trùng Quang cung. Hựu khởi kiến Phật tự ư cung tây, viết Phổ Minh tự 陳太宗幸即墨刱重光宮又起建佛寺於宮西曰普明寺 (Trần Thái Tông khi về chơi Tức Mặc đã cho xây cung Trùng Quang. Lại cho khởi công xây dựng chùa Phật ở phía tây cung gọi là chùa Phổ Minh) (tờ 4b).
Chùa Phổ Minh được nhắc đến sớm nhất trong sách Đại Việt sử ký toàn thư. Sách chép rằng: “Lại làm chùa ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh”. Qua chú thích của tác giả biên tập VATT ta có thể làm rõ sự kiện vua Trần Thái Tông khi về chơi Tức Mặc vào năm 1262 đã cho xây dựng cung Trùng Quang. Chú thích này có điểm khác với ghi chép ở Đại Việt sử ký toàn thư. Theo (thực ra là xây thêm, bởi trước đó đã có cung Tức Mặc, do đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường nên cũng đổi tên cung Tức Mặc thành cung Trùng Quang. Đại Việt sử ký toàn thư ghi xây dựng cung Trùng Hoa)(18), cùng lúc đó lại cho khởi công xây dựng chùa Phật gọi là chùa Phổ Minh. Thực ra cách ghi của ĐVSKTT cũng chưa rõ, nếu theo tác giả biên tập VATT thì ngoài cung Tức Mặc, vua Trần Thái Tông còn cho xây dựng cung Trùng Quang. Nếu như vậy, vị trí của chùa Phổ Minh ở phía tây cung cũ Trùng Quang mà không phải ở vị trí cung Trùng Hoa(19).
Việc chú thích các sự kiện lịch sử cũng được tác giả biên tập sách VATT hết sức chú ý. Nhờ có chú thích, người đọc có thể hiểu rõ hơn nội dung của bài thơ.
Ở cuối bài thơ Thư hoài 書懷của vua Trần Dụ Tông, tác giả biên tập chú như sau: “Trần Thái Tông củ huynh Liễu thê. Liễu tác loạn, hậu lai hàng. Trần Thủ Độ dục sát chi, Thái Tông nặc chi dĩ Yên Phu, Yên Sinh địa vi Liễu thang mộc ấp. Nhân hiệu Yên Sinh.陳太宗糾兄柳妻柳作亂後來降守度欲殺之太宗匿之以安阜安生地為柳湯沐邑因號安生Trần Thái Tông lấy vợ của anh là Trần Liễu. Trần Liễu làm loạn, sau đó đến xin hàng. Trần Thủ Độ muốn giết Liễu, nhưng Thái Tông giấu đi, sau ông còn cắt đất Yên Phụ, Yên Sinh cho Liễu làm đất thang mộc. Vì thế Liễu có hiệu là Yên Sinh) (12b).
-Thứ năm: chú thích, chú âm các từ ngữ khó
Trong VATT có tới 22 trường hợp giải thích nghĩa từ và 9 trường hợp chú âm đọc. Việc chú thích các từ ngữ khó giúp độc giả hiểu rõ hơn ý nghĩa của câu thơ. Ví dụ, trong bài 天長Thiên trường (Phủ Thiên Trường) (tờ 6a), thơ của vua Trần Nhân Tông có câu: “Tế vũ thôn vân thổ hoa tiêu” 霽雲吞雨土花銷(Mây quang mưa tạnh rêu sạch hết), sau chữ “Thổ hoa” tác giả biên tập chú: “Đài dã 苔也(là loại rêu). Hay trong bài Đông Sơn tự (Chùa Đông Sơn) 東山寺, thơ của vua Trần Anh Tông, sau câu: “Nguyệt tả quân trì dạ giản hàn”月潟軍持夜澗寒 (Trăng tãi ánh sáng xuống bình nước, dòng suối ban đêm lạnh lẽo), tác giả biên tập chú từ “quân trì” như sau: phạn vân quân trì tức tịnh bình dã. Vị thủ thủy bình thường trữ thủy tùy thân dĩ tịnh thủ 梵云軍持即淨瓶也謂取水瓶常貯水隨身以淨手 (Phiên âm từ tiếng Phạn: Quân trì tức bình sạch, hay còn gọi là bình lấy nước, thường đựng nước mang theo người để rửa tay) (6b).
Việc chú âm cũng được tác giả biên tập coi trọng. Ví dụ trong bài Vãn Trần Trọng Trưng 挽陳仲徵(Viếng Trần Trọng Trưng) thơ của Trần Thánh Tông陳聖宗có câu: “Đông phong uấn lệ vị thương tình”東風慍淚為傷情 (Gió đông cũng đẫm lệ vì thương xót cho ông), trước chữ “lệ” có chua âm đọc “慍音 âm “uấn” (1b). Hay trong bài 幽居U cư (Chỗ ở thanh u) thơ của Nguyễn Tử Thành阮子成許 có câu: “Thiết hiệt đài ban bích lũ oa” 砌纈苔斑壁縷蝸 (Thềm rêu loang vách vết sên bò), chữ “hiệt”纈chú âm là “Hứa liệt thiết”許列切 Hoa liệt thiết (15b, q.2).
***
Tóm lại, căn cứ vào lối chữ húy thời Lê sơ và hơn hai trăm chú thích về âm, nghĩa, điển cố, khảo dị... bước đầu chúng tôi cho rằng, sách VATT, ký hiệu A.1925 hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là bản in lại sách VATT, in năm Diên Ninh thứ 6 (1459) đúng như nhận định của các nhà nghiên cứu đi trước.
Với một số lượng lớn, khoảng 300 bài thơ, văn của các tác giả Trần-Hồ và hơn 200 chú thích, khảo dị... của tác giả biên tập sách VATT năm 1729, VATT không chỉ có vinh dự là tác phẩm lần đầu tiên công bố một số lượng lớn các sáng tác của các tác giả thời Trần Hồ, "khai sinh ra ngành biên soạn thơ văn dân tộc" mà còn mở ra cánh cửa để chúng ta tìm hiểu về phương pháp biên tập, chú giải, khảo chứng ngôn ngữ văn tự Hán thời Lý-Trần của cha ông ta ở thời Hậu Lê. Với việc làm sáng tỏ thêm bản in VATT năm 1729 là bản in lại bản VATT năm 1459, chúng tôi cho rằng việc dịch, khảo dị, chú thích, chú giải, công bố nguyên vẹn tác phẩm VATT trong nay mai là việc làm cần thiết, có ý nghĩa thiết thực, hy vọng có thể đem lại cách nhìn mới từ bộ sưu tập thơ ca của dân tộc thời Lý-Trần.
Chú thích:
(1). Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, bản chữ Hán, A.1389, Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Mục Hiến chương chép như sau: “Việt âm thi tập, 6 quyển. Sử thần là Phan Phu Tiên soạn, Lý Tử Tấn phê điểm” (tờ 69b).
(2). Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb. Giáo dục. 2008. T.2, tr.443. Mục Văn tịch chí chép: “Việt âm thi tập, 6 quyển. Sử thần là Phan Phu Tiên soạn, Lý Tử Tấn phê điểm”.
(3). Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam. Nxb. KHXH. 1990, tập II, 26, 29.
(4). Thơ văn Lý-Trần, tập I, phần Khảo luận văn bản, tr.65.
(5). Nguyễn Thị Oanh: Môn tâm hay Môn la. Thông báo Hán Nôm năm 2002, tr.434-443.
(6). Nguyễn Thanh Tùng: Phát hiện mới về văn bản Việt âm thi tập”. Thông báo Hán Nôm học năm 2004, tr.496-508.
(7). Xem thêm Ngô Đức Thọ: Chữ húy Việt Nam qua các triều đại. Nxb.Văn hóa. 1997.
(8). Hán ngữ đại từ điển. tr.1353.
(9). Hán ngữ đại từ điển. tr.4143.
(10). Hoàng Việt thi văn tuyển tập. Nxb.Văn hóa. 1987, tr.43.
(11). Thơ văn Lý-Trần, sđd,tập II, tr.453-454.
(12). Xin tham khảo thêm đoạn ghi chép dưới đây trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: “xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau”. Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb. KHXH. Hà Nội. 1998. Tập II, tr.37.
(13). Theo sách Đại Nam nhất thống chí, ở địa phận tỉnh Nam Định cũng có huyện Ý Yên (Đại Nam nhất thống chí, sđd. tập 3, tr.382). Nhưng theo chúng tôi, có thể tác giả biên tập nói đến huyện Ý Yên thuộc thời thuộc Minh, lúc đó huyện Ý Yên bao gồm cả một phần địa phận của tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa ngày nay. Cũng theo Đại Nam nhất thống chí, chỉ có Thanh Hóa mới có núi Đông Sơn nên chúng tôi nghiêng về ý kiến thứ nhất.
(14). Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Thuận Hóa, tập 3, tr.274.
(15). Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Thuận Hóa, tập 2, tr.292.
(16). Bia Thạch bi ký, ký hiệu N0 17317, Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bia ghi việc trùng tu xây dựng chùa Phật ở thôn Đông Sơn, tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa vào năm Tự Đức thứ 30 (1877).
(17). Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Thuận Hóa, Tập 2, tr.292.
(18). Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa xuân, tháng 2, Thượng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn. Các hương lão từ 60 tuổi trở lên, mỗi người được ban tước hai tư, đàn bà được hai tấm lụa. Đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang. Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa. Lại làm chùa ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh”. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH. Hà Nội. 1998. Tập II, tr.33.
(19). Thực tế rất khó đưa ra kết luận chính xác về các trường hợp chú của VATT, tuy nhiên có thể coi đây là dị bản để tham khảo.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.539-556)