VI | EN
68. Về bản thần phả đình làng Tróc xã Như Trác - Lý Nhân - Hà Nam (TBHNH 2012)
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.557-565)

VỀ BẢN THẦN PHẢ ĐÌNH LÀNG TRÓC

XÃ NHƯ TRÁC - LÝ NHÂN - HÀ NAM

NGUYỄN ĐĂNG PHÁC

Hà Nội

Lý Nhân - Hà Nam là vùng đất thuộc khu vực châu thổ sông Hồng có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa. Nơi đây tồn tại nhiều di tích lịch sử giá trị như: đình, đền, chùa miếu trong đó có những di tích lớn cấp quốc gia như đền Trần Thương là chứng tích từ thời Trần. Ở các di tích này hiện vẫn còn gìn giữ được nhiều tài liệu Hán Nôm như thần thích, sắc phong, bia đá, chuông đồng. Chúng tôi đã có nhiều dịp về thăm quan khảo sát ở đây và cũng tìm được một số tư liệu Hán Nôm có giá trị. Trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm học năm 2012 này xin giới thiệu tóm lược một bản thần tích ở một ngôi đình cổ thuộc xã Như Trác, Lý Nhân, Hà Nam.

Đình làng Tróc thuộc xã Như Trác xưa kia thuộc tổng Thổ Ốc, huyện Nam Xương, phủ Lý Nhân. Nam Xương còn gọi là Nam Xang thời Lý - Trần thuộc Lỵ Nhân, đời Lê Thánh Tông đổi là huyện Nam Xương. Thời Nguyễn năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) tổng Thổ Ốc, huyện Nam Xương thuộc về tỉnh Hà Nội, năm 1890 cắt chuyển sát nhập lập tỉnh Hà Nam nay thuộc huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam.

Đình làng Tróc còn giữ được nhiều tài liệu Hán Nôm, nổi bật là bản thành tích ghi chép về sự tích Thành hoàng làng được thờ ở đình. Bản thần tích còn tương đối nguyên vẹn, tổng số 15 tờ với 30 trang chữ Hán. Sách đã bị mất bìa, chất liệu dùng giấy dó. Chữ Hán viết kiểu chữ Chân nét rất đẹp, tuy nhiên có đoạn viết hơi đá thảo nên cũng hơi khó đọc.

Bản thần tích ghi niên đại tương đối rõ: “Hồng Phúc nguyên niên chính nguyệt sơ thập nhật. Dưới là dòng chữ: “Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Chiểu phụng soạn” - Bề tôi Nguyễn Chiểu chức Đông các Đại học sĩ ở Viện Hàn lâm phụng soạn vào ngày 20 tháng Giêng năm Hồng Phúc nguyên niên (1533). Cuối trang là dòng chữ: “Hoàng triều Vĩnh Hựu nhị niên Mạnh Thu cát nhật quản giám bách thần Tri điện hùng lĩnh Thiếu khanh thần Nguyễn Hiền tuân y Trần Triều chính bản thừa sao” - Bề tôi là Nguyễn Hiền chức quản giám bách thần Tri điện hùng lĩnh Thiếu khanh thừa sao theo đúng chính bản triều trước vào ngày tốt tháng 7 năm Vĩnh Hựu thứ 2.

Xem xét phần ghi niên đại và người soạn chúng tôi thấy có sự sơ suất của người sao chép thần tích, do tự dạng giống nhau nên đã chép nhầm chữ Nguyễn Bính thành Nguyễn Chiểu. Thực tế thời đó triều Hồng Phúc nhà Lê vị quan Đông các Đại học sĩ ở Viện Hàn lâm là Nguyễn Bính, ông là người chuyên soạn thần tích thần phả. Điều này chứng tỏ bản thần tích này là bản sao lại từ văn bản khác, bản sao này có khả năng làm vào thời Nguyễn sau này chứ không phải thời Lê.

Hiện nay một số di tích đình, đền ở Hà Nội và vùng phụ cận như Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định... gần như có chung thần tích thờ thành hoàng làng. Thời trước các bản thần tích thần phả được sao chép truyền lưu, trong sao chép cũng có sự thêm bớt về chi tiết, việc bổ sung thêm vào thường viết ở đoạn cuối cuốn thần phả.

Dưới đây xin trích dịch đoạn cuối ghi trong bản thần tích ở đình làng Tróc, tạm coi là một dạng tư liệu tham khảo.

“... Thế truyền: ở Sơn Tây đạo, Quốc Oai phủ, Từ Liêm huyện, Bồng Lai trang, có một nhà họ Dương, tên Thái, vợ là Trần Thị Soa, ba, bốn đời làm điều thiện, tu nhân, không làm điều gì ác. Dương Công ở thời Thái Tổ Quang Thái, mười năm là bác sỹ khoa vị, làm quan huyện Nam Xang, lập cung ở xã Như Trác, năm 45 tuổi, mộng thấy một ông Bạch xà, từ trên trời bay xuống hoa viên, vợ Dương công mang thai, ngày càng đẹp rực rỡ như đóa hoa trên cành. Dương công lại nhìn thấy trên trời xuất hiện hình sắc mây đẹp, một vừng đỏ quanh mặt trăng. Đầu tháng nằm mộng, Trần thị thấy mộng lạ, chưa từng có trong chiêm bao, vợ chồng gần gũi, thân thể bàng hoàng, bối rối, rồi sau đó có mang.

Đến kỳ sinh nở được một con gái, mặt như hoa quế trong sáng như gương, vợ chồng vô cùng mừng rỡ, thấy đây là quý nhân, đặt tên là Quý Nương. Đến năm 18 tuổi, công dung ngôn hạnh, tứ đức không ai sánh bằng. Tháng Giêng ngày xuân, Lý Thái Tông mở hội lớn, bốn phương tuấn kiệt đến thi tài. Quý Nương có cậu là Trần Công Cử đương là Phó quan. Quý Nương theo cậu đi xem hội, trên đường trở về nhà, bỗng nhiên gặp Thái Tông xa giá. Thái Tông nhìn thấy: tưởng đấy là tiên nữ cung trăng, trong lòng mười phần vui vẻ. Thái Tông đưa Quý Nương về làm vợ, lập làm đệ nhị Cung Phi, lập cung tại trại bên Tây Hồ. Cung Phi ở trong cung. Thân mẫu Cung Phi là Trần Thị qua đời, Cung Phi xin tiên đế về cư tang. Tiên đế cho gia lĩnh tiền bạc, gấm vóc. Cung Phi bái tạ vua, trở về hành lễ chịu tang được ba năm, Vua lệnh sứ thần triệu Cung Phi về cung.

Một ngày Cung Phi đi chơi Tây Hồ, thuyền đang cập bến, bỗng thấy giảo long phù du từ dưới mặt nước lên, bay quanh Cung Phi ba vòng và nhập vào thân thể. Người tự nhiên hưng phấn. Một khoảng thời gian Giảo Long phóng xuống Tây Hồ. Từ đấy Cung Phi có thai, đười mười bốn tháng đến ngày mồng 10 tháng 3 năm Giáp Thìn, sinhhạ nam Hoàng tử mắt phượng, mày ngài, long nhan như hổ, đường đường tướng mạo, dưới chân có bảy cái lông dài hơn ba thốn. Sinh được trăm ngày Cung Phi được gọi vào triều với vua. Đại khai yến hạ, khao bách quan. Vua đặt tên là Hoàng Lang. Vua lại đưa mẹ con trở về cung riêng tại trại, năm ngày một kỳ lĩnh thưởng hoàng kim để nuôi dưỡng mẹ con Cung Phi.

Được hai năm thì quốc gia có chiến tranh, giặc dữ khởi binh đến đất Nam Hải, đưa 50 vạn tinh binh đến xâm chiếm đất nước, lập đồn doanh 30 dặm, tinh kỳ rợp đất, binh khí ngút trời, thành lũy bị bao vây, quan quân bị tử trận. Triều đình văn võ không có kế sách gì chống giặc, mọi người kinh hãi, lo sợ.

Thái Tông lo lắng, lập tức truyền bách quan lập đài, tế thiên địa bách thần: Sơn xuyên, tinh tú, vua ngồi cầu niệm, nội trong ba ngày. Bỗng thấy gió mưa, trời đất tối sầm, thấy một lão nhân, cao hơn chín thước, tóc trắng như cước; ngồi trên mặt Tây Hồ, cười nói vui vẻ. Mọi người đều thấy người lạ, lại vào tấu với vua. Vua xa giá, thân chinh đón tiếp vào triều. Vua hỏi: nay nước có chiến tranh, quân giặc xâm chiếm, muốn thắng giặc xin hỏi lão nhân chỉ giáo. Lão nhân nói: vợ vua đã gặp một quái vị, là trời đã cho tướng tài, sinh tại quốc gia, hà tất vua phải lo chi thảo tặc.

Vua thấy thiên thần hiện lên báo mộng suy nghĩ không biết ai là tướng tài ở tại quốc gia. Duy có Hoàng Lang niên phủ, hai tuổi, chưa biết nói, sao có khả năng tiễu trừ thảo tặc!

Vua sai sứ giả đi khắp thiên hạ, đến các châu sở, trang trại, truyền lệnh của vua. Khi đến trại, Hoàng Lang đang nằm không nói; Hoàng Lang nghe tin sứ giả tới, bỗng nhiên ngồi dậy nói với mẹ: Quốc gia có việc gì, mà sứ giả đi chiêu mộ, mẹ lấy làm lạ, nói lại cho con: nay quốc gia có chiến tranh, vĩnh tặc đến xâm chiếm, triều đình triệu văn thần, tướng võ lại, nhưng không có kế sách gì phá giặc. Con nay miệng vẫn còn chưa nói được, hỏi chi tới việc nước.

Hoàng Lang lại nói với mẹ, mời sứ giả tới nói rằng: Sứ giá về cáo với vua, chọn một voi trận, một lá cờ lớn mang đến cho ta, vua há phải lo lắng. Lập tức sứ giả về cung. Vào triều tấu lại sự thể với vua, vua vô cùng mừng rỡ, không còn lo sợ nữa. Cấp cho chọn voi trận, làm cờ lớn, vua thân chinh đưa đến Hoàng Lang.

Hoàng Lang vươn vai hét to mười tiếng, bỗng nhiên thân dài mười trượng, Hoàng Lang bái tạ trước vua phất cờ, ngồi trên lưng voi. Nói là: ta là Thiên tướng, voi chạy như bay. Vua lệnh quan quân theo sau. Hoàng Lang cưỡi voi đi đến đâu, tức thì dân địa phương lập án hành lễ nghênh tiếp, xin theo gia thần diệt giặc. Tức thì cùng ngày Hoàng Lang đến phủ Lý Nhân huyện Nam Xang, xã Như Trác, thôn Khu Mật. Nhân dân phụ lão làm lễ bái tạ, mời dừng xe nghỉ lại, Hoàng Lang lại truyền binh sĩ, nhân dân thiết lập hành cung tại trong thôn. Ngồi theo hướng Quý Đinh, để cự chiến với giặc.

Thời gian Hoàng Lang lưu ở hành cung, Hoàng Lang thiết lập trai đàn, cáo tế trời đất, bách thần, khi đang hành lễ, bỗng thấy hai người: tự trong giang hạ bay thẳng đến, ngồi trên đàn, lại nói: Thần là anh em danh tướng Đinh triều, họ Hùng. Nhất danh: Câu lang Đại tướng quân. Nhất danh: Điền lý Đại tướng quân. Nay thấy quốc gia có chiến tranh, vĩnh tặc đến xâm nhiễu, quốc thần huynh đệ, là con cháu Hùng Vương, là con trai của chúa Sơn Nam Hạ đạo, là thủy thần xuất tế, hộ quốc cứu dân.

Nay thấy Hoàng Lang, mật đáo âm phù, diệt trừ thảo tặc, thần là huynh đệ, hiện báo nguyện mang âm binh, cùng diệt thảo tặc, được sự thanh bình. Thỉnh Hoàng Lang thiết lập miếu Vũ tại hành cung (thôn Khu Mật) Thái tử Hoàng Lang cùng cầu nguyện.

Hoàng Lang lại lệnh cho dân lập Thần hiệu như mộng báo. Hoàng Lang thấy thân hữu anh linh hiển ứng. Lại truyền cho nhân dân, phụ lão thôn Khu Mật, xã Như Trác, ngày mồng 8 tháng 10 lập thần hiệu: Câu lang linh ứng đại vương, Điền Lý uy hiển đại vương.

Hoàng Lang viết xong, cưỡi voi hùng, voi đi như bay đến thẳng đồn giặc Nam Hải, Hoàng Lang phất cờ chỉ vào đồn giặc, phút chốc nhìn thấy một đạo thủy quân, có hai tướng quân, tay cầm cờ đỏ, từ phương đông tiến đến. Tự xưng: Thần là huynh đệ - Nhất danh: Câu Lang đại tướng, Nhất danh: Điền Lý đại tướng mang binh trực chiến: thủy đạo ngư tệ, quy ngạc, kình nhi, trùng trùng, diệp điệp vạn đội nghìn hàng, quân giặc nhìn thấy phách lạc hồn kinh. Thuyền giặc tan rã, thủy quân đại bại, bộ binh rối loạn. Hoàng Lang phất cờ tiến lên tiêu diệt binh mã, thu hồi khí giới, đuổi giặc về nước.

Vua mở đại yến, bách quan vào triều dâng tấu. Hoàng Lang bái tạ Tiên đế sau đó Hoàng Lang trở về cung thứ tại trại, nuôi mẹ được vài tháng. Rồi sau đó Hoàng Lang bị bệnh, ba tháng không khỏi, nghìn thầy vạn dược, hùng y bách kế, nghìn phương cũng không chữa được, toàn thân lâm tỉnh. Vua đến thăm trại, tức thì Hoàng Lang tâu rằng: Thần là con của bệ hạ, và cũng là con của Long Cung, nhờ Thác môn sinh ra để hộ quốc cứu dân, diệt trừ thảo tặc. Nay đất nước thanh bình, nguyện trở về Thủy quốc. Vua rơi lệ nói: người ở chốn hương hà, xuất thế gia cư ở cùng Trẫm, mười năm cùng hưởng phúc thái bình.

Hoàng Lang thưa rằng: Hoàng thiên bảo số, số trời định chỉ có ba năm, duyên nợ với vua không thể sai mệnh trời. Vua nói: Trẫm không có sức cản phá khi lại có thảo tặc. Vì vậy khi cần báo giúp việc này ở đâu? Trẫm muốn tùy cơ ứng báo vạn nhất sau này.

Hoàng Lang tấu là: Thần cùng voi hùng, cờ lớn nguyện theo bệ hạ, nay xin các vật voi hùng, cờ lớn kích giặc về trời. Cờ bay ở nơi nào, tức là nguyện cầu, là thần vệ hộ giúp. Lại xin cho phủ Lý Nhân, huyện Nam Xang, xã Như Trác, thôn Khu Mật, ở đây thần có gia quyến, anh em, thần xin bệ hạ chuẩn miễn thu các loại thuế. Còn dân là huyết thực của thần đã nuôi giấu Nan Nương - Hoàng thái hậu và Hoàng đế Trang Tông.

Hoàng Lang cúi đầu bái tạ vua, tung đại kỳ bay về trời, hóa thành Hắc xà dài hơn mười trượng, hạ xuống Tây Hồ. Lúc đó voi hùng quỳ ở bên trái cùng hóa theo. Tức ngày 15 tháng 7 năm Bính Ngọ. Sau khi Hoàng Lang hóa, nhân dân phụ lão thôn Khu Mật, xã Như Trác tập trung về thành Thăng Long (Thỉnh tả) Hoàng Lang thần hiệu đón rước về thôn phụng thờ.

Vua lại gia phong: Linh Lang đại vương. Tái phong hai vị: Câu Lang linh ứng đại vương, Điền Lý uy hiển đại vương chuẩn cho thôn Khu Mật, xã Như Trác, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân, phụng thờ ba vị.

Về lịch sử giữa các triều đại Đinh, Lễ Lý, Trần, Lê, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, hữu nghiệm linh ứng, chăm lo việc công, hộ nước cứu dân. Có vị vua bao phong Mĩ tự: Vạn cổ huyết thực, Thượng đẳng phúc thần. Lưu truyền muôn đời cùng đất nước.

Thời Lê Thánh Tông ba tháng không mưa, thiên hạ đại hạn, cỏ cây khô héo, nhân dân cơ cực đói khát. Vua loan giá đến các linh từ hành lễ.

Ngày 15 tháng 8 Lê Thánh Tông loan giá đến đình Khu Mật, Như Trác, nơi thờ phụng ba vị đại vương. Vua khấn vái, xin ở trong đình, thỉnh chuông hàm ơn đất trời. Vua nằm dưới án thư, đến nửa đêm mộng thấy ba vị xà, từ trên trời bay xuống hóa thành ba vị Đại vương, vua lại thấy có sắc thiên đình hạ lệnh cho thần hành phong tác vũ, tạo gió làm mưa theo cầu nguyện của vua. Lại nghe thấy trên trời có ba tiếng sấm lớn. Vua tỉnh lại truyền dân, binh sĩ làm lễ. Khi đang hành lễ trời đất tối sầm, gió mưa ầm ầm bốn phương nước dâng lên ba mét, giảo long, ngư tệ, lân ngạc, kình nhi về triều tế sở. Vua thất kinh liền truyền nhân dân, mổ trâu bò hành lễ bái tạ.

Vua loan giá về cung, mở yến tiệc khánh hạ, gia phong bách thần mỹ tự Vạn cổ phúc thần.

Vua Lê Thánh Tông gia phong:

-Linh Lang thượng đẳng tối linh đại vương.

-Câu Lang linh ứng tế thế Đại vương.

-Điền Lý uy hiển dực vận đại vương.

Định các ngày: lễ khai sinh, ngày hóa ba vị đại vương, chữ húy, lệ sắc phục, để hành lễ sau này.

Cấm chữ húy: Linh Lang, Câu Lang, Điền Lý.

Thiết cấm nhân dân khi hành lễ mặc áo trắng áo vàng.

Lễ sinh thần hai vị: ngày mồng 4 tháng Giêng (lễ xôi, thủ lơn, trai bàn bánh và hoa quả).

Lễ sinh thần: Linh Lang đại vương ngày mồng 8 tháng 3.

Lễ khánh hạ ba vị đại vương: ngày mồng 3 tháng 3.

Lễ chính cung: ngày mồng 10 tháng 3 (lễ dụng tùy nghi).

Lễ Hoàng Lang hóa: ngày 15 tháng 7.

Lễ sắc phong ba vị đại vương: ngày 25 tháng 12.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.557-565)

Nguyễn Đăng Phác
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm