VI | EN
7. Nghiệp oan nàng họ Đào, bản dịch Nôm của Nguyễn Thế Nghi. (TBHNH 1997)
TBHNH 1997

NGHIỆP OAN NÀNG HỌ ĐÀO,
BẢN DỊCH
NÔM CỦA NGUYỄN THẾ NGHI

HOÀNG HỒNG CẨM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục từ nguyên văn chữ Hán đã được quen biết nhiều qua các bản dịch ra Quốc ngữ của : Ngô Đê Mân trong Quảng tập Viềm văn (1898), của Trần Thúy chủ nhân hiệu sách Cát Thành (H.1912) của Trúc Khê Ngô Văn Triện (1940-1941) và sau này là Thứ Lang Bùi Xuân Trang (S.1962-63)(1). Tuy nhiên chỉ đến Trúc Khê thì tác phẩm đó đã thực sự lên ngôi để trở thành cây cổ thụ trong làng văn học cổ Việt Nam.

Riêng bản dịch Nôm của Nguyễn Thế Nghi thường quen gọi là Tân biên mà được phiên âm đúng văn bản cổ thì mới có Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Quang Hồng giới thiệu 2 truyện (4 và 15) trên Tạp chí Ngôn ngữ đời sồng. Về chúng tôi, trong Thông báo Hán Nôm năm 95 và 96 đã giới thiệu 2 truyện (1 và 14). Kỳ này chúng tôi xin được phiên âm, chú giải tiếp truyện thứ 7: Truyện Nghiệp oan nàng họ Đào (Đào thị nghiệp oan ký) theo bản khắc in đời Cảnh Hưng 24 (1763) hiện còn ở TVQGHN.

Câu chuyện được Nguyễn Dữ trình bày khá sinh động. Trên cơ sở đó Nguyễn Thế Nghi đã cố gắng khắc họa các nhân vật một cách rõ ràng. Theo quan điểm của thời đại tác phẩm - thể hiện rõ ở lời bình – thì cô gái Hàn Than, nhà sư Vô Kỷ là loại tà dâm đáng chê trách: Ngươi Nhược Chân cũng ắt có lỗi do không biết “sửa” nhà nên mới gây mầm họa. Chỉ có sư cụ Pháp Vân là đáng quí đáng tôn vì đã cứu nạn cho cả 1 gia đình. Thật là lời cảnh cáo với lũ tà dâm! Tuy nhiên nếu đứng về gốc độ khác thì câu chuyện có thể gợi lên cho ta những ý nghĩa tình người hơn: đó là sự xót xa cho số phận của những kiếp người con gái, là sự uất ức muốn được vùng lên thoát khỏi bất công xã hội. Ta đã có hàng Hàn Than không những có sắc mà lại có tài. Cô “biết tiếng luật, thông văn tự” được kén vào cung, được xướng họa cùng Vua, được ban thưởng vì tài hoa… Có lẽ điều oái oăm nhất của cô là sự khao khát được thể hiện mình. Nhưng chính nhờ điều dó cho thấy ở cô là sự khao khát đến cháy lòng tình yêu cuộc sống và tình yêu đôi lứa. Cô là con người yêu thiên nhiên, yêu sông núi, yêu chim muôn… Một cô gái hồn nhiên như thế sao không được quyền yêu quyền sống? Nhà sư Vô Kỷ, người đã dám vứt bỏ hết cả pháp qui, pháp độ để đi theo tiếng gọi của con tim. Việc làm đẹp đẽ biết bao, nhưng lại là trọng tội biết bao với xã hội cũ, với đạo Nho với Phật giáo đương thời… Mặc dù đây mới chính là đòi hỏi chính đáng của con người, muốn vẫy vùng để thoát ra khỏi sự áp bức khắt khe. Có lẽ tìm hiểu ở cả 2 mặt này chúng ta mới thấy được giá trị nhân văn của câu chuyện.

Và thế là cũng vẫn sắc màu hư hưu thực thực, câu chuyện cho chúng ta hay: ở thời đại nào thì tình yêu vẫn là trung tâm của cuộc sống! Có lẽ đây cũng là ý nghĩa mà các tác giả muốn gửi lại cho hậu thế.

Dưới đây là toàn bộ phần phiên, chú của câu chuyện.

ĐÀO THỊ NGHIỆP OAN KÝ

(Chuyện nghiệp oan của nàng họ Đào)

Phủ Từ Sơn con hát có danh họ Đào chữ mọn là Hàn Thanh, biết tiếng luật thông văn tự. Đời nhà Trần năm Thiệu Phong thứ năm (1345), kén vào sổ trong cung. Đòi ngày lấy uống rượu đánh bạc vào chầu. Một ngày vua Trần nổi thuyền đi chơi sông Nhị Hà, duỗi đến đầu ghềnh Đông Bộ, Vua Trần bèn lãng ngâm rằng:

“Mù ngất tiếng chuông nhỏ

Bãi phẳng bóng cây dài”

Tôi gần chửa kịp nói họa, nàng Đào ứng tiếng rằng:

“Bến trong cá hớp trăng

Lũy cũ nhạn kêu sương”

Vua khen thưởng vậy lâu đấy, nhân gọi làm nàng Hàn Than. Vua Dụ Tông băng, lui ra ở dưới Kẻ Chọ. Hằng qua lại nhà quan Hành khiển là ngươi Ngụy Nhược Chân.

Thửa nàng phu nhân chửa có con mà hay ghen, ngờ nàng Hàn Than tư thông cùng ngươi Nhược Chân, càng thêm roi vọt. Nàng Đào cực xiết hờn giận, liền bỏ hột châu ngọc, giống cài đầu, rao tìm kẻ thích khách vào nhà ngươi Nhược Chân. Phải người giữ nhà thửa bắt được, lời xưng liên đến nàng Hàn Than. Nàng Hàn Than sợ, bèn thế tóc(4) mặc áo thâm trốn ở chùa Phật Tích, giảng kinh đọc kệ, vài tháng lầu thông. Hằng chụm nhà ở am thanh, hợp đoàn khách xin văn bảng(5). Thời ấy có thằng trẻ trong thôn tuổi vừa mười bốn mười lăm. Nàng Hàn Than rẻ(6) thửa trẻ, giễu rằng: “Con trẻ kia ít hay văn ru? Thử vì ta nối đấy”.

Gã tiểu đồng trọn chẳng có mắt mũi giận, lui về mà tìm được sự tích nàng Hàn Than. Làm văn rằng:

“Tượng mắng,

Bụt vốn hiền lành, thửa tên gọi rằng Giác.

Người hay trong sạch, bèn dối liền nên thật.

Hay sửa cõi pháp, làm độ cầu, chỉn ấy chốn tùng lâm làm tông chủ;

Kính bui non Phật Tích âm chủ là họ Đào.

Tên trốn trong sổ nhạc,(7) đầu lạy cung Phạn Vương(8)

Miệng anh đào, lưng dương liễu.

Uốn lưỡi thủa ấy xảy trải khắp nhạc Lương Châu(9) mấy khúc.

Điềm mây lành, mặt trời sáng,

Ngước đầu thủa ấy đà nương về cung Đâu Suất(10) mọi chốn.

Bỏ quần trong nhờ nước sông Tương đòi lần(11).

Thế tóc xanh như mây núi Sở đòi đoạn.

Trong mộng chẳng một mối đến cảnh, nửa gối chơi tiên; (12)

Trước giá nào là chốn ghẹo người, vài tiếng địch vắn.

Viện hát chẳng vắng bằng viện tăng;

Áo nạp(12b) càng mát hơn áo mụ.

Nước bố bến Tào Khê(13), còn phân bóng soi gương,

Đêm đọc kinh bối điệp(14), còn dấy tiếng quanh rường,

Tuy rằng ngồi thiền định quên máy

Chẳng nài động lòng mê phải rượu

Chân chẳng đến bến Tầm Dương(15) đưa khác,

Mình chỉn lại đất Hàng Quận lễ(16) thiền.

Trẻ chốn Ngũ Lăng(17) giao thưởng gấm(18) đoạn đầu, theo đòi chửa đành;

Khách trải ba thân kết bạn xã Liên Hoa(19) bày dắt sao năng.

Hỡi ôi! Chuông thôi chè cạn chẳng có sự nào nữa.

Muốn đến chốn sơn phòng đánh một giấc ngủ”.

Văn đã nên, cả treo ra cửa chùa, xa gần truyền chép. Nàng Hàn Thanh bèn cất mình đêm liền trốn. Mẳng tiếng xứ Hải Dương có chùa Lệ Kỳ, núi thẳm nước trong, cảnh tiên rất hơn(20). Chùa ấy có thầy già cả là thầy Pháp Vân cùng tiểu tăng tên là Vô Kỷ, nhân đến ra mắt vậy. Thầy Pháp Vân chẳng cho vào, vả bảo tiểu năng rằng:

- Con gái ấy nết chẳng ghín lành, tính quen nhẽ trắc, tuổi vừa đương trẻ, sắc hầu nghiêng nước. Tư lệ(21) lòng thiền chẳng bằng đá, vật lạ dễ day người. Tuy sen đỏ chẳng nhuốm bùn đen,(22) song thước mù dẽ lung nguyệt sáng. (23) Mày hay chống đấy, chớ để ăn năn ngày sau”.

Tiểu tăng chẳng nghe, chỉn chịu đấy(24). Thầy Pháp Vân bèn ngày ấy dời ở chót đỉnh(25) núi Phượng Hoàng. Nàng Hàn Thanh tuy ở cõi sạch(26) song thói cũ còn như ngày trước. Hằng khi lên thượng đường, mặc chưng áo giao tiêu, duỗi chưng quần nhạ la, phô chưng dồi dáng trong cung(27). Cõi dục đã gần, máy thiền dễ động, bèn cùng đấy tư thông vậy. Hai người đã cùng được, buông lòng luông sự đục, chẳng khác bằng mưa dầm chưng khi hạn, cái điệp chưng gặp xuân. Chốn o­ng song pháp tượng giáo chẳng rồi nhớ lâu, những tối tăm nồng thửa lòng, ngày cùng nàng họ Đào nối câu thơ. Hễ trong núi cảnh vật khá nên ngâm vịnh ấy chăng là chẳng vẩy mũi bút nhiều chép(28). Chẳng hay khắp chép hết, hãng chép thửa một hai thơ chưng sau vậy:

Thửa thứ một: Thơ Sơn vân

Xa xem nồng lai lạt,

Bên trời thẫm chửa trong.

Sớm theo mưa ít ruổi.

Hôm đem ráng lần về.

Nghi ngút vì gió cuốn,

Phất phơ đòi chốn liệng.

Tăng làm biếng đồng cũng nải.

Ai vì khép của hang.

Thửa thứ hai: Thơ Sơn vũ

Một trận mưa nghìn núi tối

Ù ù dậy ý kêu.

Vẻ Châu cơ chồng liền đất;(29)

Tiếng tinh đẩu sa giữa trời.

Giọt nước dạt được dòng suối gấp;

Khí mát về chiêm bao khách êm.

Chốn sơn phòng chẳng có mối việc;

Xâm vào đêm mấy canh tàn,

Thửa thứ ba: Thơ Sơn phong

Tiếng linh lại thổi động thẳm;

Tiếng xác xác thâu đêm.

Lay hoa lòng đỏ rối;

Rung cây bóng Lục kinh(30)

Tăng áo nạp cừu mát ít;

Chuông trên lầu đưa tiếng trong.

Vang vang trong trời đất;

Chẳng vì sự bất bình mà kêu.

Thửa thứ tư: Thơ Sơn Nguyệt

Rừng cây xa ê ê,

Nổi khí sáng liền trời.

Ngậm núi dáng gương bạc mẻ;

Cách mù dường mâm ngọc thu.

Bóng lặn cửa thông vắng;

Mát về viện trúc âm.

Trong sáng đòi chốn có;

Nào ắt lên lầu nam(31).

Thửa thứ năm: Thơ Sơn tự

Một khó giãi vàng biếc;

Sườn núi dấu mặt trời ban hôm.

Gió cao ngăn thông nổi sóng;

Trời gần mùi quế bay thơm,

Cửa động nhỏ tiếng chim dức;

Đầu non xế bóng tháp dài.

Trong trần ai những khách danh lợi;

Trông ấy biết mấy lần bồi hồi.

Thửa thứ sáu: Thơ Sơn động

Sinh cả ở chốn rau củi;

Nội cỏ áy nào hay.

Hát ngạo chơi khi áng mây đen sậm;

Địch vắn thốt thuở mặt trời vàng tối.

Hươu nai vịt nước là bầu bạn;

Khói nước đá ấy hương thôn.

Lại về trong động thẳm;

Mây đóng làm tiểu càn khôn.(32)

Thửa thứ bảy: Thơ Sơn viên

Ẩn ước những bạn người Sào Nam;(33)

Một ngày biết mấy lần leo núi.

Sầu nên dỏ nước mắt người đất Ba;(34)

Tiếng kêu thương thấu mây chốn nước Sở

Uống suối gọi bày đi;

Nghe kinh làm bạn lại.

Mây thẳm biết chốn nào tìm;

Vẻ núi chỉn chót vót.

Thửa thứ tám: Thơ Sơn điểu

Thân thế ở ngoài khói mây;

Nhưng nhưng(35) trọn ngày rồi.

Một tiếng reo khi vẻ núi tối.

Vài cái liệng thuở ban hôm về.

Dâng cho tăng cắn đem trái lại;

Đỗ làm tổ đến chốn non cao.

Chíu chít ai biết ấy;

Bay qua trong dải tính la.

Thửa thứ chín: Thơ Sơn hoa

Khí ấm vào cây cao thấp:

Cành cành đỏ như lửa hầu cháy.

Mé đông mé tây ráng giãi trong thế giới.

Chốn xa chốn gần gấm rỡ khắp sơn xuyên.

Rỡ mầu hồng lưng núi mưa rụng;

Phảng mùi hương cửa động gió đưa.

Nghỉ nở lại nghỉ rụng.

Xưa nay mấy trời xuân;

Thửa thứ mười: Thơ Sơn diệp

Một màu biếc liền trời chẳng có cõi;

Cành rậm người trông lầm.

Thu lại lá vàng khắp nẻo;

Xuân đến màu lục đầy đường.

Ngày mói chẳng ai quét;

Khói thẳm có chim kêu.

Xanh vậy xem chẳng xiết;

Ngàn dặm mặt trời gác phương tây”.

Chưng sao tối mê chẳng trở lại tính thường, lấy vui trước mắt, vui rất mà ra thương, lẽ chẳng thông lấy làm lạ.

Năm Kỷ Sửu ắt phải bệnh nghén. Từ xuân sang hè khi đọng khi dừng đều nương người. Tiểu tăng vốn chẳng hay thuốc, lại chẳng quen phương rệt chữa. Trong đệm nằm cưu hận, trằn trọc mà mất. Tiểu tăng thương xót chỉn cực(36) quàn để chốn chót nhà bên tây(37). Đêm ngày vỗ quan khóc rằng: Mày cưu oan bối rối vì tiểu tăng mà mất. Dầu được cũng theo cam lòng nhắm mắt. Thực chẳng khiến người lành một mình thác. Phương chi nàng bay thở bình sinh sáng nhẹ, những khác thói thường. Thác dầu có biết, gấp tìm tiểu tăng ở chưng trong cõi hoàng gian, chẳng muốn với thầy Pháp Vân cùng thấy vậy.

Vài tháng sau, ắt nhân nhớ nên bệnh,(38) lai rai nửa năm, cơm cháo chẳng ngon. Một đêm ấy thấy nàng Hàn Than tới bảo rằng:

- Thiếp ngày trước ấy lấy chưng bóng ngả cành tang du, theo chưng chơi chùa Lan Nhã. Cười lòng trần lo chưng khôn bỏ, dận nghiệp chướng hiềm chưng chửa dứt. Bỏ mình chùa Đao Đài, bèn nên phận vẽ. Sống trước chửa đủ chưng thẳm vui, mất sau nào hại chưng lại hợp(39) Thửa trông cốc chưng pháp kệ bằng Sáu Như, gieo(40) chưng tướng thiền pháp Tứ Đại(41) Tạm bỏ cõi chiêu đề,(42) khuất đến chốn tuyền nhưỡng,(43) khiến thiếp ngửa nương sức Bụt, kíp giả thai dối(44) rồi rẽ một đoạn nợ oan gia vậy(45).

Nói thôi chẳng thấy, bệnh bèn thêm lắm.(46) Thầy Pháp Vân mẳng tiếng đấy, xuống dưới núi cùng thăm xem. Đến nơi thì bệnh chẳng khá làm chi được vậy.(47) Cùng xem nhau(48) dỏ nước mắt, phút vậy mà mất.

Đêm ấy mưa gió tối tăm, dưới Kẻ Chợ bay cát ngã nhà. Nàng phu nhân quan hành khiển ngươi Nhược Chân ngày trước, mộng thấy hai cái rắn giao cắn xuyên vào cạnh sườn nách bên tả. Bèn cốc(49) thai nghén, sinh hai con trai, bèn mệnh danh cả rằng Long Thúc, thứ rằng Long Quý. Khắp một năm liền hay nói(50) tám tuổi hay làm văn. Rất làm cha mẹ thửa dốc yêu.(51) Thời ấy vừa tiết thịnh hạ(52) ngươi Nhược Chân một ngày ở chốn Phi Lâu(53) lánh nắng. Lầu xem ra đường cả, một tiểu tăng xin ăn qua thửa dưới, dùng dằng dòm trông, muốn bỏ mà đi nhưng chẳng hay dứt. Xảy than rằng: “Lạ thay lâu đài dường ấy, xảy thấy làm hang vực rồng rắn. Khá tiếc! Khá tiếc!” Ngươi Nhược Chân sợ sệt thất sắc, gấp theo mà hỏi cùng đấy. Sơ chẳng khứng nói,(54) nhưng rằng:

- Xảy khi trong hoảng hốt chẳng có biết lời chi lại, yêu thắm thẳm ngờ.

Ngươi Nhược Chân ép hỏi chẳng tha. Bèn nói:

- Trên nhà ngươi cấu khí gở cực nhiều, chẳng phải nghiệp báo thân trước, thì ắt oan gia đời nay. Thửa người ấy đã ở trong nhà. Chẳng khỏi năm tháng, khắp hòa cửa chẳng có loài sót vậy(55).

Ngươi Nhược Chân xin trợ, tiểu tăng rằng:

- Min vốn lấy chưng chước xem tướng người tặng danh, xin xét xem thảy thảy, thấy thửa người ấy bèn gõ chậu làm ghi. Thực hở một lời vạ nay dậy vậy”.

Ngươi Nhược Chân khiến người nhà một thời ra lạy. Tiểu tăng lắc đầu rằng:

- Bằng chẳng có thửa người gở, chửa ắt kíp biến nên hình thượng này.

Đòi đấy hai ba lần, bèn với hai con trai chưng trong nhà học. Đã đến, bèn lấy tay gõ chậu lặng vậy. Than rằng:

- Tốt thay 2 nuôi trai, tin hay lập sự nghiệp lạ dấy dức nhà người.(56) Hãi trong đời trông xem chớ chẳng người ấy vậy(57).

Hai người trai giận rằng:

- Tiểu tăng ai đâu lại loàn đan vậy nhiều lưỡi”.(58)

Đều giũ tay áo mà đi. Ngươi Nhược Chân chẳng vui, tiểu tăng cũng giã mà đi.

Đêm ấy ngươi Long Quý khóc bảo ngươi Long Thúc rằng:

- Thủa ban ngày, tiểu tăng gở nói nhiều chẳng lành dường có chưng lòng dòm dõi(59). Dầu đứa kia biết đấy, chúng nô chẳng có chốn ở vậy”(60).

Ngươi Long Thúc cười rằng:

- Hay trừ khử chúng nô, bui đấng già(61) cả là thầy Pháp Vân, thửa thừa lưa(62) mọi gã, trở tay cướp bùa vậy. Phương chi ngươi Nhược Chân lấy chưng nghĩa thân xương thịt ắt chẳng hiềm(63) chưng ta, khá gìn chẳng lo vậy”.

Thời ấy ngươi Nhược Chân nằm ngủ chẳng nên giấc(64) một mình bước lãng đãng xảy chưng chốn cửa sổ nghe đấy, sợ sệt hãi hùng, toan chẳng biết thửa ra đâu. Sáng ngày thác lấy việc khác, rộng hỏi chùa có danh, tìm tên họ thầy Pháp Vân. Tháng dư, đến chùa Lệ Kỳ Sơn, có tiểu đồng nói rằng:

Thủa trẻ nghe có tên ấy đã dời vào ở chốn núi thẳm, phỏng mấy năm nay vậy.

Nhân chỉ núi Phượng Hoàng chót đỉnh rằng:

- Chốn ấy vậy.

Bèn vén xiêm mà đi, lại bốn năm dặm mới đến thửa cõi.(65) Thầy Pháp Vân vừa nương ghế mà nằm, tiêng ngáy bằng sấm, chiêu đăm có hai tiểu đồng đứng hầu. Ngươi Nhược Chân khúm núm bước lên. Hai tiểu đồng mắng ngăn. Thầy Pháp Vân ngủ liền thức. Ngươi Nhược Chân đến lạy, no bảo lấy ý lại.(66) Thầy Pháp Vân cười rằng:

- Tiên sinh sao lầm vậy vay? Lão phu này mình chẳng ở nơi chùa quán, chân chẳng bước đến thành chợ đã nhiều thời vậy. Chỉn hay chưng nhóm trong am cỏ, quét đất đốt hương, đọc kinh Lăng Nghiêm(67) vài lần. Bùa xua phép đuổi chẳng phải trong sự chức phận(68).

Chống đấy cực nghiêm.(69) Hai tiểu đồng ở bên chắp lời rằng:

- Đạo bụt ta lấy hiền lành làm bè, trợ vớt làm cửa. Thương chưng kẻ chìm đắm nơi khổ hải, trợ chưng kẻ mắc sa chốn mê xuyên. Tượng muốn cùng lên ngàn ấy đều gội duyên lành. Bằng lại bền chối há hay rộng cả?

Thầy Pháp Vân mới vui vậy nghe chịu. Bèn đến thửa chốn đặt bàn pháp. Bốn bề treo đèn, lấy son viết bùa lục. Phỏng một canh, có mây đen mười trượng quanh khắp bên đàn, gió rét kíp lại lạnh chẳng khá phạm.(70) Thầy Pháp Vân cầm thiết như ý(71), chỉ vẫy bên tả bên hữu. Thời ấy hoặc khỏi ngoài đàn, bằng chưng hình trách mắng. Ngươi Nhược Chân xa chưng chốn khác, hé rèm trộm xem, vắng chẳng thửa thấy. Nhưng chưng giữa trời nghe tiếng khóc sùi sùi. Giây mà tiếng khóc thôi, khí mây tạm tan đi. Sáng ngày thầy Pháp Vân lấy hùng hoàng(72) bôi hòn đá, mực viết thửa trên(73) trao cho ngươi Nhược Chân rằng:

- Ngươi về khi ấy thấy yêu quái biến làm vật gì, kíp lấy hòn đá ấy gieo đấy. Gốc vạ nghỉ, dứt vậy.

Đã đến nhà, thấy người nhà vây khóc. Nói chưng đêm ấy ban trống ba,(74) hai con trai cùng dắt nhau vào giếng mà thác. Nước giếng cả dẫy hầu ngập sân thềm. Thiếp đã ghín quàn ở vườn nam, chờ chàng về sẽ táng vậy. Ngươi Nhược Chân rằng:

- Khi nó thác ít có lời nào?

Người nhà rằng:

- Nhưng cùng ăn năn rằng chầy vài tháng nữa việc nô rồi vậy. Nhiều phải kể tăng dại, thửa lầm.

Nhân lại cả kêu khóc. Ngươi Nhược Chân ngăn đấy, cùng đến vườn nam bổ cái quan mà nghiệm, đã hóa làm hai cái rắn vàng, gieo đấy, lấy hòn đá, liền tan nát nên tro. Vợ chồng nhiều đem vàng lụa đi tạ thầy Pháp Vân. Đến thì rêu lấp am cỏ, chẳng còn dấu đi, chỉn ngần ngại vậy mà trở lại.

Lời bình:

Hỡi ôi!

Trị chưng đạo dị đoan hại ấy chỉn lắm. Phương chi đã trị thửa giáo mà lại chẳng nương thửa giáo. Duỗi hại khá xiết nói vậy thay! Kia đứa Vô Kỷ lấy làm kẻ mạnh gian dân luông chưng thói tà dâm. Chẳng những dối người lại dối thửa thửa rằng Bụt vậy. So lấy Chúa nước Ngụy, chưng giết thầy Sa môn tội có thừa vậy.(75) Vậy thời người Nhược Chân ắt chẳng có lỗi ru.

Nguyễn Dữ rằng: Làm quan sang mà dường ấy sửa nhà sao thửa được vậy. Mống vạ hẳn gây hầu hãm chẳng lường. Ra chưng nó ấy lại chưng nó, nào thông nhiều lạ.

Chú thích:

1. Chữ mọn: dịch từ “tiểu tử”, ý khiêm tốn.

2. Dõi đến: đi đến

3. Đông Bộ: Đông Bộ đầu (Hà Nội) nơi ta đánh nhau với quân Nguyên.

4. Thế tóc: xuống tóc, cắt tóc đi tu.

5. Văn bảng: bảng văn bài văn hay được đề bảng.

6. Rẻ thửa trẻ: khinh (xem thường) con trẻ.

7. Sổ nhạc: sổ nhạc công, nơi ghi tên con hát.

8. Phạn vương: cửa Phật.

9 Lương Châu: khoảng niên hiệu Thiên Bảo đời Đường, các điệu nhạc đều lấy tên đất ở ngoài biên cương như Lương Châu, Cầm Châu, Y Châu…

10. Đâu Suất: Sách Thiên hạ dị ký nói: cảnh giới nhà Phật ở một tầng trời gọi là trời Đâu Suất, tầng trời ấy ở trên 33 tầng.

11. Đòi lần: nhiều lần

12. Chơi tiên: lên chơi cõi tiên.

12b. Áo nạp: áo thầy tu.

13. Tào Khê: Đời Lương có vị cao tăng tên là Trư Dược từ nước Thiên Trúc sang Tàu, thuyền đến cửa khe Tào Khê ở Thiều Châu, thoảng thấy mùi thơm, múc nước thử nếm rồi bảo: Thượng lưu dòng nước này có thắng địa. Bèn xẻ núi làm chùa, đặt tên là chùa Bảo Lâm.

14. Bối điệp: Lá bối, kinh Phật thường được viết trên lá cây bối.

15. Bến Tầm Dương: Chuyện người ca sĩ về già lấy người lái buôn đỗ thuyền ở bến Tầm Dương. Ông Bạch Lạc Thiên (tức Bạch Cư Dị) đến bến ấy tiễn khách nghe tiếng đàn tỳ bà rất hay, bèn tìm đến xin người đó gảy đàn cho nghe.

16. Chùa Hàng Quận: Nàng ca kỹ ở Tây Hồ thuộc đất Hàng Châu tên là Cầm Tháo, một lần tiếp văn sĩ Tô Đông Pha, nghe ông đọc hai câu thơ:

“Môn ngoại lãnh lục yên mã hy

Lão đại giá túc thương nhân phu

(Ngoài cửa lạnh lùng xe ngựa vắng

Tuổi già duyên kết chú phường buôn)

Cầm Tháo tỉnh ngộ, bèn cắt tóc đi tu.

17. Ngũ Lăng: Nơi nhưng khách chơi hào hoa phong nhã hay tổ chức tiệc tùng ca hát.

18. Thưởng gấm: Tục đời Đường, các công tử vương tôn nghe hát thường lấy gấm quàng đầu con hát để thưởng.

19. Xã Liên Hoa: Thầy chùa Huệ Viễn đời Tấn cùng các bạn tu gồm 18 người họp thành hội gọi là hội Bạch Liên Hoa, lại viết thư mời. Ông Đào Uyên Minh đến dự, Uyên Minh bảo có cho uống rượu mới đến, Viễn nhận lời. Nhưng khi Uyên Minh đến lại không có rượu, ông không vừa lòng, cau mày bỏ đi.

20. Cảnh tiên rất hơn: rất đặc sắc so với các cảnh trí nơi khác.

21. Tư lệ: riêng e, riêng sợ.

22. Tuy sen đỏ chẳng nhuốm bùn đen: dù bông sen không hề nhuốm bùn đen.

23. Song thước mù dễ lung nguyệt sáng: nhưng mây mù dễ che vầng trăng sáng.

24. Chịu đấy: nhận đấy.

25. Chót đỉnh: đỉnh trên cùng.

26. Cõi sạch: cõi thanh tịnh (Cõi Phật)

27. Dồi dáng trong cung: trau dồi dáng vẻ như lúc còn ở trong cung.

28. Vẩy bút nhiều chép: Chấp bút chép nhiều bài thơ.

29. Vẻ châu cơ: dáng dấp như châu ngọc - chỉ người đẹp.

30. Bóng Lục kinh: nhớ đến sách vở xưa.

31. Lên lầu Nam: Dữu Lương đời Tấn làm đô đốc Kinh Châu thường lên lầu phía Nam thưởng nguyệt.

32. Tiểu càn khôn: góc trời bé nhỏ - góc trời riêng.

33. Sào Nam: chỉ về quê tổ. Lấy từ ý của câu:

- Việt điểu sào Nam chi (chim Việt đậu cành Nam)

Ý người con không quên quê hương tổ quốc.

34. Đất Ba: đất Ba Thục.

35. Nhưng nhưng: Bình thường, cuộc sống bằng phẳng trôi qua.

36. Thương xót chỉn cực: thương xót vô cùng.

37. Chốn chót nhà bên tây: Chỗ cuối cùng nhà phía tây.

38. Nhân nhớ nên bệnh: thương nhớ quá thành bệnh

39. Sông trước chưa đủ chưng thẳm vui: Lúc sống chưa đủ lòng yêu dấu. Mất sau nào lại chưng lại hợp: khi chết nào có hại gì chuyện tái hợp.

40. Sáu như: kệ Lục như: kinh Kim Cương có 1 bài kệ tên là Lục Như hết thảy mọi việc trong đời đều: như mộng như huyễn, như bọt, như bóng, như sương, như điện.

41. Thiền phép tứ đại: 4 Châu lớn trong kinh Phật, đó là Đông Thắng Thần châu, Nam Thiện Bộ châu, Tây Ngưu Hóa châu, Bắc Câu Lư châu.

42. Cõi chiêu đề: chính nghĩa là yết bảng. Nhưng ở đây là chỉ chỗ trương công đức Phật.

43. Chốn tuyền nhưỡng: Nhưỡng là đất lành, nơi núi khe thanh tịnh để tránh cõi phù hoa.

44. Kíp giả thai dối: gấp giả đầu thai.

45. Rồi rẻ 1 đoạn trả oan gia vậy: để ra đi cùng chia sẻ việc trả nợ oan gia cho mình.

46. Bệnh bèn thêm lắm: Bệnh càng nặng hơn.

47. Chẳng khá làm gì được vậy: không có thể làm gì được nữa.

48. Cùng xem nhau: cùng nhìn nhau.

49. Bèn cốc: bèn biết

50. Khắp một năm liền hay nói: vừa 1 năm đã nói được nhiều rồi.

51. Rất làm cha mẹ thửa dốc yêu: Chứng kiến cha mẹ đã yêu lại càng yêu quí.

52. Thịnh hạ: ngày rất nóng giữa mùa hè.

53. Phi lâu: tên cái lầu.

54. Chẳng khứng nói: chẳng chịu nói.

55. Khắp hòa cửa chẳng có loài sót vậy: Khắp chỗ trong nhà chẳng nơi nào là không bị hại.

56. Dấy dức nhà người: day dức nhà người.

57. Chớ ắt chẳng người ấy vậy: không nhẽ chẳng phải là người ấy sao.

58. Loàn đan vậy nhiều lưỡi: nhiều lời quàng xiên vậy

59. Dòm dõi: ý soi mói, tìm tòi.

60. Chúng nô chẳng có chốn ở vậy: chúng ta chẳng còn chỗ nương thân.

61. Bui đấng già: chỉ có một người già

62. Thửa thừa lưa: còn nữa, ngoài ra.

63. Ắt chẳng hiềm: ắt chẳng nghi ngờ

64. Chẳng nên giấc: (trằn trọc) không ngủ được

65. Thửa cõi: chốn ấy.

66. Lạy, nó bảo đấy ý lại: Lạy đủ lễ và nói rõ lý do đến nhờ cậy nhà sư.

67. Kinh Lăng Nghiêm: còn gọi là Đại Phật đỉnh như lai một nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh thủ Lăng Nghiêm kinh, do Bát Lạt Mật Đế đời Đường dịch. Nội dung làm sáng tỏ tâm tính bản thể. Lời văn tinh diệu, thuộc bí mật của bộ Đại thừa, không có pháp nào là không đầy đủ, không có cơ duyên nào là không thu nhiếp. Đây là pháp môn quan tọng để học đạo Phật (Theo Từ điển Phật học – Hà Nội 1992).

68. Trong sự chức phận: Những việc đó không phải trong chức phần.

69. Chống đấy cực nghiêm: phản đối kịch liệt.

70. Lạnh chẳng khá phạm: khí lạnh không thể nào chịu xiết.

71. Thiết như ý: Gậy sắt như ý.

72. Hùng hoàng: một loại thuốc dùng chống khí độc.

73. Mực viết thửa trên: nét mực viết lên trên.

74. Ban trống ba: lúc trống canh ba

75. Tội có thừa nặng: tội có nhiều hơn vậy.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.46-64)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm