7. Văn bia đền Lăng Sương (TBHNH 2004)
VĂN BIA ĐỀN LĂNG SƯƠNG
VĂN KIM CHUNG
Giám đốc Bảo tàng tỉnh Phú Thọ
Đền Lăng Sương hay còn gọi theo nhân dân là đền Mẫu, đền đức Thánh Tản. Ngôi đền nằm ở vị trí trung tâm làng Trung Nghĩa, xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Với một địa thế bằng phẳng hơn 3000m2 tạo cho đền có không gian thoáng đãng có phần tĩnh mịch xen lẫn sự cổ kính thâm nghiêm. Nằm ở thế sơn chầu thủy tụ ba bề núi non trùng điệp, bốn phương phẳng lặng trông về, thật là phong cảnh hiếm có. Trong đền hiện nay còn nhiều di vật cổ được bảo lưu, trong số đó không thể không nhắc tới văn bia được đặt trong nhà bia tại đền. Văn bia 2 mặt có kích thước cao 1,15m, rộng 0,80m, dầy 0,15m được soạn năm Tự Đức thứ nhất (1848), trán bia được chạm khắc hình lưỡng long chầu nhật, diềm bia trang trí hoa văn cúc dây xoắn hình chữ S đáy bia là các đóa sen đang đua nhau nở rộ. Nội dung bia ca ngợi cảnh đẹp của đền và lịch sử những lần trùng tu, tôn tạo, tên tuổi những người có lòng hảo tâm hưng công đóng góp tiền của cho đền. Xin được giới thiệu phần phiên âm và dịch nghĩa nội dung văn bia:
Phiên âm:
Ngã hạt ! Thần mẫu từ nam thiên nhất linh tích dã. Kỳ địa tự Nhạc Sơn, Cố Sơn do mạch biên trì nhi lai trùng hãn trướng mộ, súc khởi tinh phong chí Lăng Sương sách, sơn thế nhất long bài khai tiên hạc triển, tiên cầm tại tiền nghiễm nhiên như tận thiên thành. Tỉnh vương tự liên trì sơn xuyên phô kỳ trình dị giả, bất nhất nhi túc trừ mạc lưu tú đĩnh xuất thần tiên. Tản Viên sơn tam vị đại vương đản di chi sơ trạch, hậu nhân lập miếu dĩ phụng chi. Lăng Sương tắc hộ nhi dân dã. Tự như ư Thục Chủ hất Lê trùng tu đống vũ, hiên cốc thiên bách niên vu tư hỹ. Phong chàng vũ cảm kinh cửu đồi phôi, Túc thụ mệnh lai Doãn tư thổ hạp, cảnh dĩ minh tích thử, gia bối ngưỡng chiêu tuỳ bắc ký nhiên hữu phục cổ hưng phế chi niệm sứt. Nãi mưu dữ y sách phụ lão chức dịch, bị tài liệu cưu chúng công những dĩ sự, bẩm đốc bộ đường phù chính Nguyễn Tướng công đại nhận khả cụ, thuyết vu Thiệu Trị nhất niên, Đinh Mùi lục nguyệt thập cửu hưng công, thị niên cửu nguyệt, nhật công thuân, y sách phụ lão hàm từ thỉnh dư ngôn dĩ thọ vu thạch. Cung duy phu đường đài xá thứ phế tất hữu hưng thử, diệc cổ kim duyên bối thường lý xuất ngân sự thần duẫn chi độc dã, điểu vận sự chi túc truyền tai. Tuy nhiên Lăng Sương thần nữ từ Nam Thiên linh tích tế tư gia cát thần nhân, dĩ hoà bách thất doanh ninh, thời đề mộ khánh nhi thiên niên trắc giáng thinh hương chi sở, lạc thành ư sổ nguyệt chi gian, hạ ấp chi khánh thần chi tứ dã. Bất hữu ký chi hậu, chi nhân hựu an trí từ chi phế nhi phục hưng giả, lương dĩ tư sơn chi thắng cố bất dĩ Âu Lạc hòa đao chi cánh tạ, tú chi vi thần tích nhi dân phong chi hậu thần di chi mĩ giả diệc phi. Thưởng chi công đức cực nhiên vu dĩ đạo chi thâm dã tai. Ký vọng thừa chi Bất Bạt huyện Doãn Trần Đình Túc ký chi vu thạch dĩ tòng phụ lão chi thỉnh sơn, Hưng Tuyên Tổng đốc trứ hiệp biện mộc học sĩ lĩnh Hình bộ Thượng thư phù chính Nguyễn Tướng Công hưng công.
Bất Bạt huyện Doãn Trần Đình Túc chuyên biện sơn tỉnh hữu quân trung hùng kỳ nhất đội, xuất đội hồ ba đốc biện thừa độc vệ sử mục trọng giám thông sử Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Đàm, Vũ Liên Thế, Đặng Đình Các, Lê Văn Tùng thừa biện hương lão hưng công: Đinh Công Minh, Đinh Công Suý, Đinh Công Chiểu, Đinh Công Ôn, Đinh Công Thi, Đinh Đình Khải, Đinh Đình Thức, Đinh Đình Ẩm, Đinh Đình Khái, Đinh Đình Tý, Đinh Văn Hạnh, Đinh Văn Tắc, Đinh Văn Uy, Đinh Văn Huệ, Đinh Ngọc Vàng, Đinh Kim Bảng, Đinh Hoàng Trung, Đinh Quang Chiến, Nguyễn Đức Vạn, Nguyễn Đình Học, Nguyễn Đình Quyền, Nguyễn Đình Nga, Nguyễn Đình Tụ, Nguyễn Đình Lịch, Nguyễn Đình Thưởng, Nguyễn Đình Trát, Nguyễn Đình Cẩm, Nguyễn Đình Vận, Nguyễn Hữu Vận, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Sủng, Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Văn Kỳ, Nguyễn Văn Lũng, Nguyễn Văn Quán, Nguyễn Văn Tiến, Bùi Đình Nhuận, Bùi Đình Chử, Bùi Đình Khải, Bùi Đình Vận, Phùng Đình Ba, Phùng Đình Chí, Tăng Đình Thiện, Tăng Đình Phiêu, Tăng Văn Thiện, Giang Đình Vân, Giang Đình Học, Ngô Văn Hoàn, Hà Văn Tứ, Hà Văn Bỉnh, Hà Đình Điền.
- Bản khu cung ngân nhị bách cửu thập lục mạch
- Bản xã cung ngân tam thập lục quan, nhị bách thất thập ngũ hòa hộc thập tứ bát
- Quang Bị xã Phạm Viết Tú cung ngân tam quan
- Bản sách, Nguyễn Thị Trình hiệu Diệu Quyết cung ngân tam thập quan.
Tự Đức nguyên niên, trọng thu cửu nguyệt ký vọng.
Dịch nghĩa:
Hạt ta! Có Đền thần Mẫu là một di tích linh thiêng trong cõi trời Nam. Địa giới từ núi Thiết Sơn, núi Cố Sơn theo mạch đất nối lại như bức phông phong cảnh nổi lên trên ngọn núi, hình tựa như các ngôi sao tụ chầu về đến động Lăng Sương thì dừng lại. Ngắm trông như hình rồng cuộn, hổ ngồi, tiên hạc xòe cánh, phong cảnh tự nhiên như bức tranh vẽ vậy. Giếng nước thiên thanh hình chữ Vương (I), bên cạnh là ao sen tỏa hương thơm ngát, tạo cho nơi đây một phong cảnh “Sơn chầu thủy tụ”. Nơi ấy là quê hương của ba vị đại vương núi Tản. Người đời sau lập miếu thờ, làng Lăng Sương có trách nhiệm cúng tế. Di tích này vốn có từ thời Thục An Dương Vương đến thời Lê thì được trùng tu, tôn tạo đã được hơn nghìn năm tuổi. Trải qua gió mưa nên đã bị đổ nát.
Túc tôi (Trần Đình Túc) vâng mệnh triều đình đến làm chức Doãn ở đất này, thấy toàn hạt được bình an có lẽ là nhờ có thần ban phước. Đến chiêm ngưỡng di chỉ miếu đường chợt nghĩ đến việc khôi phục trên cảnh hưng phế của thời xưa. Bàn cùng các vị phụ lão, chức dịch của làng này chuẩn bị của cải, tài sản, nguyên vật liệu, dân chúng cùng góp công, góp sức. Việc này bẩm lên trên quan Đốc bộ đường phù chính Nguyễn Tướng Công đã chuẩn y cho làm.
Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), ngày 19 tháng 6 năm Đinh Mùi bắt đầu hưng công tu sửa, đến tháng 9 năm sau thì xong. Các phụ lão trong làng đề nghị khắc bia để lưu truyền muôn thuở cho con cháu đời sau. Thiết nghĩ đến di tích như ngôi nhà chung hỏng thì phải làm, đó cũng là lẽ đương nhiên, đốc xuất dân thờ thần là trách nhiệm của quan huyện có gì phải bàn đâu. Tuy nhiên đền thần Mẫu ở Lăng Sương là một di tích linh thiêng của trời Nam, thần vẫn luôn ủng hộ che chở cho muôn dân vì thế mới được yên lành thịnh vượng. Dấu vết thêm thọ nghìn năm trắc giáng có lẽ trùng tu vài tháng sẽ xong, cho nên không ghi lại người đời sau làm sao biết được, đền đã hỏng mà lại có hợp quần với thắng cảnh do thiên nhiên ban tặng. Cơ đồ Âu Lạc thay đổi nhưng dấu xưa vết cũ, những thuần phong mỹ tục của người dân vẫn trường tồn cùng với sự ban phúc của thần. Công đức triều vua nào cũng xét đến, đó âu cũng là đạo lý cây có gốc, nước có nguồn vì thế mà ngày 15/7 (mạnh thu) vâng mệnh bề trên chức Doãn của huyện Bất Bạt Trần Đình Túc ghi vào bia đá theo yêu cầu của các cụ phụ lão. Sơn Hưng Tuyên Tổng đốc, Thụ nghiệp biện Đại học sĩ lĩnh Hình bộ Thượng thư phù chính Nguyễn Tướng Công cũng có mặt, và giao trách nhiệm cho Doãn huyện Bất Bạt Trần Đình Túc giám sát. Tỉnh Sơn Tây chức Hữu quân trang hùng kỳ nhất đội, xuất đội hồ ba làm đốc công, còn lại Nguyễn Hữu Vinh, Vũ Huy Huân, Nguyễn Đàm, Trịnh Đình Đào, Lê Văn Tùng cùng các viên chức khác có trách nhiệm phân công cụ thể.
Các hương lão, chức dịch trong làng hưng công tu tạo:
Đinh Công Minh, Đinh Công Súy, Đinh Công Chiểu, Đinh Công Ôn, Đinh Công Thi, Đinh Đình Khải, Đinh Đình Thức, Đinh Đình Ẩm, Đinh Đình Khái, Đinh Đình Tý, Đinh Văn Hạnh, Đinh Văn Tắc, Đinh Văn Uy, Đinh Văn Huệ, Đinh Ngọc Vàng, Đinh Kim Bảng, Đinh Hoàng Trung, Đinh Quang Chiến, Nguyễn Đức Vạn, Nguyễn Đình Học, Nguyễn Đình Quyền, Nguyễn Đình Nga, Nguyễn Đình Tụ, Nguyễn Đình Lịch, Nguyễn Đình Thưởng, Nguyễn Đình Trát, Nguyễn Đình Cẩm, Nguyễn Đình Vận, Nguyễn Hữu Vận, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Sủng, Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Văn Kỳ, Nguyễn Văn Lũng, Nguyễn Văn Quán, Nguyễn Văn Tiến, Bùi Đình Nhuận, Bùi Đình Chử, Bùi Đình Khải, Bùi Đình Vận, Phùng Đình Ba, Phùng Đình Chí, Tăng Đình Thiện, Tăng Đình Phiêu, Tăng Văn Thiện, Giang Đình Vân, Giang Đình Học, Ngô Văn Hoàn, Hà Văn Tứ, Hà Văn Bỉnh, Hà Đình Điền.
- Bản khu cung tiến 296 mạch, 1.200 đấu lúa
- Bản xã cung tiến 36 quan tiền, 275 đấu lúa và 14 bát lúa
- Bản Châu cung tiến 221 quan tiền
- Xã Quang Bị có Phạm Viết Tú cung tiến 3 quan tiền
- Bản Sách, Nguyễn Thị Trình hiệu là Diệu Quyết cung tiến 30 quan tiền.
Ngày 15 tháng 9 năm Tự Đức thứ nhất (1848)./.
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.53-57)