VI | EN
7.“VẬN KHÍ BÍ ĐIỂN” của HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG qua thư tịch Hán Nôm và ứng dụng (TBHNH 2002)
TBHNH2002

“VẬN KHÍ BÍ ĐIỂN” CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG QUA
THƯ TỊCH HÁN NÔM VÀ ỨNG DỤNG

NGÔ QUYẾT CHIẾN

ĐỖ VIẾT PHƯƠNG

Học viện Quân y

     Thuyết Vận khí của Hải Thượng Lãn Ông xin được sơ lược trình bày qua các điểm dưới đây:

     - Ngũ vận lục khí được gọi tắt là vận khí, đây là một trong những học thuyết quan trọng của y học cổ truyền phương Đông, học thuyết vận khí, giải thích sự biến hoá khí hậu thiên thời của giới tự nhiên. Người xưa cho rằng, mọi sự biến hoá của khí hậu thiên thời đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến vạn vật trong vũ trụ, đặc biệt là con người. Trên quan điểm chỉnh thể của y học cổ truyền, học thuyết vận khí lấy học thuyết âm dương ngũ hành làm trung tâm “thiên nhân tương ứng”, “nhân thân chi tiểu thiên địa”. Con người là vũ trụ thu nhỏ... Mọi sự biến đổi phức tạp của vũ trụ đều có thể xảy ra những biến đổi trong cơ thể con người.

     - Ngũ vận: là thuỷ, kim, thổ, mộc, hoả (ngũ hành) phối hợp với thiên can trong quá trình vận động để suy đoán tuế vận của mỗi năm.

     - Lục khí: là phong, nhiệt, hoả, thấp, táo, hàn phối hợp với địa chi để suy đoán tuế khí của mỗi năm (tính chất của khí hậu từng năm phụ thuộc vào khí của năm đó).

     - Vận khí: là kết hợp cả hai “ngũ vận” và “lục khí”. Học thuyết vận khí được vận dụng làm sáng tỏ mọi sự liên quan, ảnh hưởng qua lại trong giới tự nhiên cũng như trong cơ thể con người.

     - Học thuyết vận khí được vận dụng vào y học người xưa cho rằng: Con người luôn có sự quan hệ rất mật thiết với giới tự nhiên, mọi sự sinh hoạt của con người nhất thiết phải thích ứng với mọi biến hoá của giới tự nhiên, vì vậy các nhà Y học xưa thường lấy con người so sánh đối chiếu với giới tự nhiên để suy đoán.

     - Nội dung học thuyết vận khí: gồm ba vấn đề lớn luôn chuyển dịch và biến đổi: thiên (trời), địa (đất), nhân (con người).

     - Mục đích: nghiên cứu học thuyết vận khí (trên phương diện y học) là nắm chắc quy luật biến hoá của thời khí (khí hậu thiên thời) để suy đoán dự đoán nguyên nhân sinh bệnh của ngoại cảm (tà khí lục dâm). Vì vậy lấy biến hoá khí hậu của các tiết quý trong mỗi năm để suy đoán việc phát sinh bệnh tật trong năm đó, để tham khảo trong chẩn đoán và điều trị các bệnh trên lâm sàng.

     Khi nghiên cứu học thuyết vận khí cần phải nắm vững hai vấn đề.

     Một là nắm chắc học thuyết âm dương ngũ hành, chủ yếu là quan hệ ngũ hành sinh khắc.

     - Hai là nắm vững tên gọi ngũ hành can chi để vận dụng.

     Can chi là gọi tắt của thiên can và địa chi. Thiên can có 10 (gọi là thập can) là: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý. Địa chi có 12 (gọi là thập nhị chi) là: tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Can chi trong ngũ vận lục khí đều sử dụng tên đại diện để suy đoán.

     - Thuộc tính âm dương của thiên can: thiên can và địa chi đều có thuộc tính âm dương khác nhau. Giữa can và chi thì can thuộc trời (thuộc dương), chi thuộc đất (thuộc âm), trong chi cũng có chi âm chi dương khác nhau. Theo tuần tự số lẻ là dương, số chẵn là âm (dương là thái quá, âm là bất cập), ta có:

- Dương can:

(1) Giáp

(3) Bính

(5) Mậu

(7) Canh

(9) Nhâm

- Âm can:

(2) Ất

(4) Đinh

(6) Kỷ

(8) Tân

(10) Quý

- Dương chi:

(1) Tý

(3) Dần

(5) Thìn

(7) Ngọ

(9) Tân

(11) Tuất

- Âm chi:

(2) Sửu

(4) Mão

(6) Tị

(8) Mùi

(10) Dậu

(12) Hợi

+ Ngũ vận – Lục khí – Can chi – Ngũ hành

          - Thiên can phối hợp với ngũ vận.

Đại vận:

1 – Giáp

2 - Ất

3 - Bính

4 - Đinh

5 - Mậu

 

6 - Kỷ

7 - Canh

8 – Tân

9 – Nhâm

10 – Quý

 

 

Thổ

Kim

Thuỷ

Mộc

Hoả

        - Địa chi phối hợp với ngũ hành.

        Tuế hội:

3 – Dần

6 - Tị

9 – Thân

12 – Hợi

5 – Thìn

2 – Sửu

4 – Mão

7 - Ngọ

10 – Dậu

1 - Tý

11 – Tuất

8 – Mùi

Mộc

Hoả

Kim

Thuỷ

Thổ

Thổ

        - Địa chi phối hợp với tam âm, tam dương và lục khí, khách khí.

1- Tý

2 – Sửu

3 – Dần

4 – Mão

5 – Thìn

6 – Tị

7 - Ngọ

8 - Mùi

9 - Thân

10-Dậu

11-Tuất

12-Hợi

Thiếu

Âm

Quân

Hoả

Thái

Âm

Thấp

Thổ

Thiếu

Dương

Tương

Hoả

Dương

Minh

Táo

Kim

Thái

Dương

Hàn

Thuỷ

Quyết

Âm

Phong

Mộc

       + Ứng dụng ba phương thức trên

     - Ứng dụng khi suy đoán đại vận, đại vận chủ soái của một năm dùng để giải thích sự biến đổi khí hậu của cả năm và là cơ sở để suy đoán khách vận.

     - Ứng dụng để suy đoán tuế hội (trong 60 năm có 8 tuế hội)

     - Ứng dụng khi suy đoán khách khí

     - Phương pháp suy đoán được ứng dụng cụ thể: theo y văn y học cổ truyền Trung Quốc, phương pháp ghi năm dựa theo can chi kết hợp có vào khoảng thế kỷ thứ 2 – 3 sau công nguyên, trước thời Đông Hán chỉ được dùng để ghi ngày còn sau đời vua Quang Vũ mới được dùng để ghi ngày, tháng, năm. Phương pháp này hiện nay trong âm lịch vẫn còn dùng.

(1)

Giáp

Ất

Bính

Đinh

Mậu

Kỷ

Canh

Tân

Nhâm

Quý

 

(2)

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tị

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tỵ

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

(1): Thiên can (2): Địa chi

     Tên mỗi năm đều có cấu tạo một thiên can, một địa chi kết hợp.

     Ví dụ: Giáp Tý (Giáp là thiên can, Tý là địa chi)

     Ất Sửu: (Ất là thiên can, Sửu là địa chi)

     Phương pháp này ngoài ra còn được áp dụng cho ngày, tháng, giờ.

     * Chuyển dịch của ngũ vận: di chuyển, vận động không ngừng (không dừng lại), ngũ vận được chia ra thành: đại vận, chủ vận, khách vận.

     - Đại vận: chủ về biến hoá khí hậu của cả năm. Theo thiên can chúng ta có:

     Giáp, Kỷ đại vận là thổ vận

     Ất, Canh đại vận là kim vận

     Bính, Tân đại vạn là thuỷ vận

     Đinh, Nhâm đại vận là mộc vận

     Mậu, Quý đại vận là hoả vận

     Mỗi vận chủ suốt cả năm, chu kỳ của nó là 5 năm. Theo ngũ hành tương sinh thì trong 30 năm mỗi kỷ, mỗi vận chủ 6 năm, trong 60 năm mỗi vận chủ 12 năm (theo ngũ hành, cứ mỗi hành trong vòng giáp tý (60) năm có 12 năm chủ về biến hoá khí hậu của cả năm). Đại vận của cả năm có thái quá và có bất cập.

     Quy luật chung: năm dương thái quá khí của năm ấy lưu hành. Năm âm bất cập thì khí tương khắc, khí của năm ấy lưu hành.

     - Chủ vận là chỉ sự biến đổi bình thường của các vận quý (một năm có 5 giai đoạn) trong một năm. Suy đoán chủ vận bắt đầu từ ngày tiết Đại hàn, mỗi vận quý chiếm khoảng 73 ngày lẻ 5 khắc.

     Theo ngũ hành tương sinh: Mộc thuộc sơ vận

     Hoả thuộc nhị vận

     Thổ thuộc tam vận

     Kim thuộc tứ vận

     Thuỷ thuộc cuối vận

     Khí hậu bình thường của chủ vận lấy thuộc tính ngũ hành của lục khí.

     Sơ vận: mộc khí chủ phong, nhị vận hoả khí chủ thử nhiệt, tam vận hoả khí chủ thấp, tứ vận kim khí chủ táo, cuối vận thuỷ khí chủ hàn (khí hậu ở các giai đoạn của mỗi năm là giống nhau).

     - Khách vận: chỉ sự biến đổi khí hậu khác thường trong 5 vận quý của mỗi năm. Suy đoán khách vận dựa theo năm thiên can đại vận là sơ vạn, khách vận kết hợp với 5 tiết quý và 5 bước suy đoán.

 

Sơ vận

Nhị vận

Tam vận

Tứ vận

Cuối vận

Giáp Kỷ

Thổ

Kim

Thuỷ

Mộc

Hoả

Ất Canh

Kim

Thuỷ

Mộc

Hoả

Thổ

Bính Tân

Thuỷ

Mộc

Hoả

Thổ

Kim

Đinh Nhâm

Mộc

Hoả

Thổ

Kim

Thuỷ

Mậu Quý

Hoả

Thổ

Kim

Thuỷ

Mộc

     Tóm lại:

     - Đại vận là suy đoán biến hoá khí tượng của các năm, 10 năm một vòng theo thiên can (5 năm thái quá, 5 năm bất cập).

     - Chủ vận là chủ biến hoá khí hậu bình thường của 5 giai đoạn trong một năm.

     - Khách vận là suy đoán khí hậu khác thường của năm giai đoạn (tiết quý) của mỗi năm.

     * Chuyển dịch của lục khí: là sáu khí trong vũ bao gồm: phong, nhiệt, hoả, thấp, táo, hàn. Mỗi năm lục khí được chia làm hai loại: chủ khí và khách khí.

     - Chủ khí là chỉ biến đổi khí hậu bình thường

     - Khách khí là chỉ khí hậu biến đổi thất thường

     Khách chủ gia lãm (khách khí thêm chủ khí) phân tích sâu thêm sự biến hoá phức tạp của khí hậu.

     - Chủ khí: là khí chủ thời dùng để chỉ rõ quy luật khí hậu bình thường trong mỗi năm, có ý nghĩa giống như vận chủ tứ thời. Lục khí chủ thời cố định hay biến đổi được gọi là chủ khí.

     - Phương pháp suy đoán chủ khí: chủ khí chủ thời được chia làm sáu giai đoạn. Sáu giai đoạn này lại được chia làm 24 tiết tự. Bắt đầu từ ngày tiết Đại hàn thuộc sơ vận (quyết âm phong mộc) qua bốn tiết khí chuyển dịch một bước. Thứ tự của nó từ sơ khí đến cuối khí. Liên quan 6 giai đoạn 6 khí và  24 tiết khí:

Lục

bộ

Nhị

Tam

Tứ

Ngũ

Cuối (lục)

Lục khí

Quyết - Âm

Phong – Mộc

Thiếu - Âm

Quân – Hoả

Thiếu Dương

Tướng – Hoả

Thái - Âm

Thấp – Thổ

Dương minh

Táo - Kim

Thái – Dương

Hàn - Thuỷ

Tiết tự

Đại – hàn

Lập – xuân

Vũ – thuỷ

Kinh – trập

Xuân – phân

Cốc – vũ

Thanh minh

Lập – hạ

Tiểu – mãn

Hạ - chí

Mang chủng

Tiểu – thử

Đại – thử

Xử – thử

Lập – thu

Bạch – lộ

Thu – phân

Sương giáng

Hàn – lộ

Lập - đông

Tiểu – tuyết

Đông – chí

Đại – tuyết

Tiểu – hàn

     Chủ khí nói rõ biến hoá khí hậu bình thường trong một năm, mỗi khí chủ 60 ngày và 78 khắc rưỡi, tuy nhiên cũng như ý nghĩa chủ vận tứ thời, nhưng trong thời gian chủ khí có khác nhau.

     Ví dụ: khí hậu bốn mùa nói chung: xuân ôn (phong), hạ nhiệt (hoả), thu lương (táo), đông hàn và hạ trưởng chủ thấp (bảng trên là lục khí: phong, thử, thấp, hoả, táo, hàn chia ra 6 bước là chuyển dịch cụ thể).

     - Khách khí: khách khí để giải thích khí hậu biến hoá khác thường hàng năm có thay đổi, khác với chủ khí cố định. “Khách ở lại là không bình thường” vì (khách là đi qua) nên gọi là khách khí.

     - Phương pháp suy đoán khách khí: khách khí chuyển dịch là do khí âm dương nhiều hay ít và thứ tự chuyển dịch là: quyết âm (âm), thiếu âm (âm), thái âm (âm), thiếu dương (dương), dương minh (dương), thái dương (dương).

     Mỗi năm có một khí chủ lĩnh, từng năm chuyển dịch tuần toàn không ngừng đó là khách khí chủ quản một năm.

     - Những năm khách khí chủ lĩnh suy đoán thế nào?

     Khí tự nhiên theo địa chi làm cơ sở. Năm Tý Ngọ trên thấy thiếu âm, năm Sửu Mùi trên thấy thái âm, năm Dần Thân thấy thiếu dương, năm Mão Dậu thấy dương minh, năm Thìn Tuất thấy thái dương, năm Tý Hợi thấy quyết âm. Địa chi mỗi năm phàm là trùng Tý Ngọ không chuyển đến thiên can. Tý và Ngọ khách khí đều thuộc thiếu âm tư thiên, Sửu và Mùi khách khí đều thuộc thái âm tư thiên...

     Mỗi tuần hoàn 6 năm 6 khí, mỗi tuần hoàn của địa chi là 12 năm (6 âm chi và 6 dương chi). Trong 60 năm chuyển dịch 5 vòng, lục khí tuần hoàn 10 vòng.

     Quy luật năm chi với tư thiên tại tuyền.

Năm chi

Tư thiên

Tại tuyền

Tý Ngọ

Thiếu âm – Quân hoả

Dương minh – Táo kim

Sửu Mùi

Thái âm – Thấp thổ

Thái dương – Hàn thuỷ

Dần Thân

Thiếu dương – Tướng hoả

Quyết âm – Phong mộc

Mão Dậu

Dương minh – Táo kim

Thiếu âm – Quân hoả

Thìn Tuất

Thái dương – Hàn thuỷ

Thái âm – Thấp thổ

Tỵ Hợi

Quyết âm – Phong mộc

Thiếu dương – Tướng hoả

     + Dựa theo quy luật biến hoá, thắng phục của khách khí; khách chủ gia lâm; chủ khách thuận nghịch; thuận nghịch chủ khách với biến đổi khí hậu. Biểu hiện sự thịnh suy của vận khí được ứng dụng để suy đoán theo thập nhị quái. Tổng hợp bảng thịnh suy của vận khí tương hợp để suy đoán bệnh tật và trạng thái thiên thắng, yếu tố bản tạng (yếu tố cơ địa của từng người bệnh) trên cơ sở đó đề ra phương pháp điều trị và dự phòng (có bảng phụ lục kèm theo).

     + Ứng dụng bảng lục thập niên vận khí tương hợp.

     - Thiên văn can chi và tạng phủ.

     Giáp Kỷ hoá thổ ? Thiên văn ngày nay cho rằng Giáp Kỷ hoá thổ là do lực tương hỗ (lực điện trường trong vũ trụ), khi mặt trời (định tinh trên thiên không) chiếu vào sao thổ ánh sáng khúc xạ lên nền trời xuất hiện quang phổ màu kiềm, cổ nhân gọi “kiềm thiên kiến vận”.

     Năm mậu quý hoá hoả khi mặt trời chiếu vào sao hoả, khúc xạ có quang phổ mầu đỏ cổ nhân gọi “đan thiên kiến vận” mậu quý hoá hoả.

     - Khi mặt trời chiếu vào sao Thuỷ cổ nhân gọi: “huyền thiên kiến vận. Bính Tân hoá thuỷ”.

     - Khi mặt trời chiếu vào sao Mộc, quang phổ màu xanh cổ nhân gọi: “thanh thiên kiến vận, Đinh Nhâm hoá mộc”

     - Khi mặt trời chiếu vào sao Kim cổ nhân gọi: “bạch thiên kiến vận, Ất Canh hoá kim”.

Trong thập Can có âm Can và dương Can (dương Can thuộc số lẻ thường thái quá, âm Can thuộc số chẵn thường bất cập).

     - Địa chi từng năm liên quan đến tạng phủ kinh lạc.

     - Như đã nói ở trên (mục địa chi phối hợp lục khí) ta có:

Tý Ngọ

thuộc thiếu âm quân hoả

Sửu Mùi Thìn Tuất

thuộc thái âm thấp thổ

Dần Thân

thuộc thiếu dương tướng hoả

Mão Dậu

thuộc dương minh táo kim

Tỵ Hợi

thuộc quyết âm phong mộc

     Chủ khí là đại biểu ngũ tạng

     Khách khí là đại biểu lục kinh (tam âm tam dương). Khách khí khi thì hoạt động trên vũ trụ (thuộc tư thiên). Khi thì vận động trong khí quyển và sâu trong lòng đất gọi là tại tuyền (tuyền đài). Những năm có tương khắc, khách khí thường gia lâm vào chủ khí tác động vào chủ vận và chủ khí.

     Vận khí khách hành khác loại thì ít bệnh tật. Vận khí cùng hành cùng loại tai hại vô cùng. Năm Vận hoả, khí tư thiên cũng hỏa thì gọi là thiên phù. Hoả cộng hoả là lưỡng hoả làm theo thời tiết nóng gấp đôi trạng thái thiên thắng thuộc về nhiệt, rêu lưỡi hình lưỡi chất lưỡi đều biểu hiện nhiệt. Năm vận hoả, năm chi cùng là hoả (Tý Ngọ) gọi là tuế hội thời tiết nắng nóng bệnh tật hoả thịnh tăng cao, hình thể lưỡi thon gọn khô, chất lưỡi ráng đỏ rêu vàng, trạng thái thiên nhiệt, thực nhiệt. Năm vận hoả, tư thiên hoả, năm chi cũng hoả gọi là thái ất thiên phù. Tử vong rất cao, hình lưỡi thuộc cực nhiệt. Năm vận hoả tư địa (tại tuyền) hoả gọi là đồng thiên phù. Năm vận hoả năm chi của khí tư thiên là hoả gọi là đồng tuế.

     - Thiên văn được vận dụng trong y học. Một đêm ngày: quả đất tự quay quanh trục của mình một vòng. Một tháng: mặt trăng quay quanh quả đất một vòng theo hình số tám (bát quái). Một năm: quả đất quay xung quanh mặt trời một vòng 10 thiên can (góc trời) 12 địa chi (cành đất).

     - Thiên can liên quan đến tạng phủ

Giáp (1)

Dương mộc

Đởm

Kỷ (6)

Âm thổ

Tỳ

Ất (2)

Âm mộc

Can

Canh (7)

Dương kim

Đại trường

Bính (3)

Dương hoả

Tiểu trường

Tân (8)

Âm kim

Phế

Đinh (4)

Âm hoả

Tâm

Nhâm (9)

Dương thuỷ

Bàng quang

Mậu (5)

Dương thổ

Vị

Quý (10)

Âm thuỷ

Thận

     * Địa chi liên quan đến ngũ hành (đã giải thích rõ ở phần trên)

     Địa chỉ:

Tý Hợi (Â - D) Thuỷ

Thìn Tuất (D) Thổ

Dần Mão (D - Â) Mộc

Sửu Mùi (A) Thổ

Tý Ngọ (Â - D) Hoả

Thân Dậu (D – A) Kim

     Cơ chế sinh bệnh theo ngũ vận lục khí có liên quan đến trạng thái thiên thắng. Chủ yếu là khí hậu khắc cơ quan và tạng phủ. Tuỳ theo bản tạng thiên thắng mà phát ra bệnh khác nhau liên quan đến kinh mạch, lạc mạch.

     - Do thuộc tính khác nhau của nguyên nhân gây bệnh, và yếu tố thể chất khác nhau của mỗi người mà có sự khác nhau về chứng trạng và cơ quan phát bệnh. Việc phát bệnh phụ thuộc vào biến hoá khí hậu “ngũ vận lục khí”. Ngũ vận thái quá hay bất cập. Lục khí tư thiên hay tại tuyền mà dẫn đến bệnh tật khác nhau.

     Ví dụ: năm Đinh Nhâm là năm thuộc vận mộc, Đinh là vận mộc bất cập thì Nhâm là vận mộc thái quá, mộc bất cập tức là táo khí lưu hành, Mộc thái quá tức là phong khí lưu hành.

     Khi táo khí lưu hành: phát sinh kỳ bệnh, da xanh, đau sườn, đau bụng dưới, dễ đi lỏng, bệnh hàn nhiệt khái thấu. Trong đó xuất hiện triệu chứng của ba tạng: tỳ, can, phế tất nhiên trong trạng thái thiên thắng sẽ có biểu hiện ở lưỡi về rêu lưỡi, chất lưỡi, hình thể ở vùng giữa lưỡi, hai bên rìa lưỡi và 1/3 trước lưỡi, các chỉ tiêu lượng hoá pH, nhiệt độ lưỡi, soi mao mạch lưỡi (thiệt chẩn) sẽ bị chi phối nhất là trên cơ thể bình thường mà có trạng thái thiên thắng trùng với sự biến đổi của khí hậu và ngũ vận lục khí.

     Nếu như năm mộc thái quá phong khí lưu hành kỳ bệnh, ăn uống kém, không ngon miệng, gầy gò, mệt mỏi, thường đau ngực sườn, hay giận dữ, bụng chướng đầy, các triệu chứng tập trung vào tỳ, vị, can trạng thái thiên thắng sẽ biểu hiện bằng biến đổi rêu lưỡi, chất lưỡi và hình thể lưỡi theo sự phân vùng của tạng phủ trên lưỡi, cụ thể là giữa lưỡi và hai bên rìa lưỡi.

     Năm Tý Ngọ (địa chi) tại tuyền là thiếu âm quân hoả. Tư tiên là dương minh táo kim, khí tư thiên chủ nửa năm đầu, khí tại tuyền chủ nửa năm sau, như vậy thì việc phát bệnh trong năm cũng khác nhau. Thiếu âm quân hoả tư thiên nhiệt (dâm) thiên thắng lại gặp trạng thái thiên thắng về nhiệt lại càng nhiệt thái quá. Kỳ bệnh: trong ngực tức nóng, họng khô, hồi hộp, sườn phải đầy đau, hàn nhiệt, khái nhiệt khái thấu, nôn máu, ỉa máu, đái máu. Bệnh biểu hiện chủ yếu tâm, phế, can, các hình thể lưỡi ở trạng thái thiên thắng biểu hiện biến đổi nhiều ở đầu lưỡi và hai bên rìa lưỡi. Nếu dương minh tại tuyền táo (dâm) thiên thắng, kỳ bệnh hay nôn, miệng đắng, tâm, sườn, ngực đau, bệnh biểu hiện phế và can, biểu hiện hình thể lưỡi và các chỉ tiêu lượng hoá trong các trạng thái thiên thắng sẽ thay đổi.

     - Vận dụng trong dự phòng và điều trị.

     Biện pháp không dùng thuốc.

     + Châm cứu theo cấu trúc thời gian (Tý Ngọ lưu trú và linh quy bát pháp hay linh quy phi đăng)

     + Bấm huyệt, chích nhể theo cấu trúc thời gian

     - Khí công xoa bóp trong dưỡng sinh phòng bệnh

     - Dùng thuốc

     + Thu hái thuốc uống thuốc theo cấu trúc thời gian (thời dược học).

     + Dựa vào mối liên quan chặt chẽ giữa biến đổi khí hậu (học thuyết vận khí) với việc phát sinh phát triển và các trạng thái thiên thắng ở người khoẻ, có lợi cho biện chứng dự phòng và điều trị lâm sàng. Cụ thể là việc lập ra các phương thuốc chính xác.

     Ví dụ: khí phong thiên thắng thì dùng thuốc tân lương để phát tán trừ phong, khi hoả nhiệt thiên thắng thì dùng thuốc tả hoả, khi thấp thiên thắng thì dùng thuốc thông hạ nhuận táo. Hàn thiên thắng thì dùng thuốc ôn nhiệt táo hàn. Vì vậy cần phải dựa vào yếu tố bản tạng trạng thái thiên thắng ở người khoẻ bình thường cũng như mắc bệnh để có hướng dự phòng và điều trị bằng cách sử dụng phương dược để thay đổi bản tạng của người bệnh.

     - Hải Thượng Lãn Ông cho rằng: “tiên học Dịch hậu học Y” Dịch với Y phải hiểu đúng nghĩa là: thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự. Thượng chi thiên văn nghĩa là phải xem yếu tố bản tạng và trạng thái thiên thắng của người bệnh: thiên hàn, thiên thấp, thiên nhiệt hoặc là thiên thấp nhiệt liên quan đến vận và khí (là bản mệnh - đã nói ở trên) hạ tri địa lý nghĩa là xem xét về khí hậu về thiên thời về môi trường của địa danh mà người bệnh đang sống; trung tri nhân sự nghĩa là phải xem xét nội bộ gia đình mối quan hệ với bè bạn hoàn cảnh và điều kiện sống, nghề nghiệp, buôn bán, lỗ lãi thất thường đều ảnh hưởng đến tính chất nặng nhẹ sự thăng trầm của tất cả trạng thái bệnh lý.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.75-92

 

BẢNG PHỤ LỤC

///

///

THỊNH SUY CỦA SÁU MƯƠI NĂM VẬN KHÍ TƯƠNG LÂM

六 十 年 運 氣 相 監 盛 衰 圖

(QUY LUẬT BIẾN ĐỔI TRÁI THƯỜNG CỦA KHÍ HẬU, LIÊN QUAN ĐẾN NĂM SINH ÂM LỊCH VÀ MỘT SỐ BỆNH BẢN TRẠNG, TRẠNG THÁI THIÊN THẮNG CỦA CƠ THỂ CON NGƯỜI)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm