7. Về áng văn xuôi đặc sắc của Nguyễn Trung Ngạn (TBHNH 2001)
VỀ ÁNG VĂN XUÔI ĐẶC SẮC CỦA NGUYỄN TRUNG NGẠN
PHAN VĂN CÁC
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Sống cách chúng ta hơn sáu thế kỷ, Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370) là nhà khoa bảng danh tiếng, nhà trí thức, nhà ngoại giao và nhà thơ lớn của dân tộc, tên tuổi lưu truyền sử sách.
Tuổi nhỏ nổi tiếng thần đồng, năm 1304 đỗ Hoàng giáp lúc 16 tuổi, cùng khoa với Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Bảng nhãn Bùi Mộ và Thám hoa Trương Phóng, năm 1312 ra làm quan, năm 1314 được cử đi sứ sang Yên Kinh lúc 26 tuổi, năm 1324 tiếp sứ thần nhà Nguyên đấu lí thắng lợi, làm quan trải các chức Thị ngự sử, Nội mật viện phó sứ, An phủ sứ Nghệ An kiêm Quốc sử viện giám tu, Đại doãn kinh sư, Nhập nội hành khiển, Thương thư hữu bật kiêm tri Khu mật viện sự, Thị kinh diên đại học sĩ, tước bá, ông được Quốc sử đánh giá là "hai lần sung chức Hữu sảnh (tức Khu mật viện), giữ trọn tiếng tốt không phụ là bậc Nho giả".
Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi cả mấy câu thơ Nguyễn Trung Ngạn tự hào về mình:
Giới Hiên tiên sinh lang miếu khí
Diệu linh dĩ hữu thôn ngưu chí.
Niên phương thập nhị Thái học sinh,
Tài đăng thập lục sung đình thí
Nhị thập hựu tứ nhập Gián quan
Nhị thập hựu lục Yên Kinh sứ.
Nghĩa là:
Giới Hiên tiên sinh tài lang miếu,
Có chí nuốt trâu từ niên thiếu.
Tuổi mới mười hai Thái học sinh
Vừa đến mười sáu dự thi đình
Hai mươi bốn tuổi làm quan gián,
Hai mươi sáu tuổi sứ Yên Kinh.
Đến nay được biết có 127 bài thơ của ông. Thơ ông nhiều bài hay. GS. Nguyễn Tài Cẩn đã có một chuyên khảo nghiên cứu rất công phu và đã tuyển dịch 53 bài(1).
Nhưng tôi muốn đặc biệt lưu ý giá trị của một áng văn xuôi Nguyễn Trung Ngạn vốn không có đầu đề, được người sau đặt tên là Ma nhai kỷ công văn. Bài văn này được khắc trên sườn núi Thành Nam, thôn Trầm Hương, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, trong một khung chữ nhật 2m,15 x 1m,45, 14 dòng, 155 chữ "nét chữ to bằng bàn tay, tạc vào đá sâu đến hơn một tấc".
Nguyên văn như sau:
"Hoàng Việt Trần triều đệ lục đế, Chương Nghiêu Văn Triết Thái thượng hoàng đế, thụ thiên quyến mệnh, yểm hữu trung hạ, bạc hải nội ngoại, võng bất thần phục. Tối nhĩ Ai Lao do ngạnh vương hoá.
Tuế tại Ất Hợi, quý thu, Đế thân soái lục sư tuần vu Tây bỉ, Chiêm Thành quốc thế tử, Chân Lạp quốc, Tiêm quốc cập Man tù Đạo Khuông, Quỳ Cầm Xa Lặc, tân phụ Bôi Bồn Man tù Đạo Thanh, Xa Man chư bộ các phụng phương vật, tranh tiên nghênh kiến. Độc nghịch Bổng chấp mê, uý tội vị tức lai triều. Quý đông, Đế trú tất vu Mật Châu Cự Đồn chi nguyên. Nãi mệnh chư tướng cập man di chi binh nhập vu kỳ quốc. Nghịch Bổng vọng phong bôn thoán, toại giáng chiếu ban sư.
Thời Khai Hựu thất niên Ất Hợi đông nhuận thập nhị nguyệt nhật lặc thạch".
Dịch nghĩa:
"Vua thứ sáu triều Trần nước Việt, Chương Nghiêu Văn Triết Thái thượng hoàng đế vâng theo mệnh trời cai quản toàn đất nước, khắp trong bốn biển thảy đều thần phục. Nước Ai Lao bé nhỏ còn chống lại nền vương hoá.
Vào năm Ất Hợi, cuối thu, hoàng đế thân cầm sáu quân đi tuần tra biên giới phía tây. Thế tử nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, nước Xiêm cùng Man tù Đạo Khuông, Quỳ Cầm Xa Lạc, Bôi Bồn Man tù mới quy phụ là Đạo Thanh, Xa Man các bộ ai nấy đem dâng sản vật địa phương, tranh nhau đón tiếp. Riêng tên Bổng ngang ngược u mê sợ tội không đến chầu ngay. Cuối mùa đông, Hoàng đế dừng nghỉ ở cánh đồng Mật Châu Cự Đồn. Bèn ra lệnh cho các tướng và binh lính man di tiến vào nước ấy. Tên Bổng phản nghịch nghe hơi tháo chạy. Bèn giáng chiếu ban sư (đem quân chiến thắng trở về).
Khắc lên đá ngày tháng 12 nhuận mùa đông năm Ất Hợi niên hiệu Khai Hựu năm thứ bảy".
Những dòng chữ lớn khắc sâu trên đá ấy là những bằng chứng bất di bất dịch với độ tin cậy tuyệt đối, cho thấy không phải như Toàn thư và Cương mục đã ghi rằng có hai cuộc thân chinh, thân chinh năm Giáp Tuất thắng lợi khắc đá ghi công và thân chinh năm Ất Hợi thì thất bại, mà chỉ có một cuộc viễn chinh duy nhất và thắng lợi.
Ngoài ra, đoạn văn trên, bên cạnh các nước Chiêm Thành, Chân Lạp và Xiêm rất quen thuộc, còn nhắc đến Bôi Bồn Man và Xa Man vốn rất ít được biết tới. Cả Toàn thư và Cương mục trong hai triều Lý, Trần đều không ghi chép gì về Bôi Bồn Man và Xa Man, phải đến năm Thái Hoà 6 (1448) thời Lê Nhân Tông mới xuất hiện tên riêng Bồn Man (quyển 12 tờ 8 chép "Bồn Man lai cống"). Cùng năm lại xuất hiện điều ghi chép về Tồn Bồn Man (Tồn Bồn Man xin nội phụ, lấy đất ấy làm châu Quy Hợp) và ở chú thích về Tồn Bồn Man ngoài việc thuyết minh rằng đất của Tồn Bồn Man ở "biên giới tây Nghệ An, đông nam giáp thượng du Nghệ An và làm phận Quảng Bình, tây bắc giáp Ninh Biên của Hưng Hoá và thượng du Thanh Hoá, phía dưới tiếp với Quỳ Châu, Tương Dương của Nghệ An" ra, còn nói Tồn Bồn Man có một tên là Bồn Man mà vị trí địa lý của Bồn Man hay Tồn Bồn Man ấy, về cơ bản gồm với huyện Tương Dương của phủ Nghệ An nói trong đoạn văn trên (xem mục Phủ Tương Dương tỉnh Nghệ An trong Lịch triều hiến chương loại chí, Dư địa chí) và Tây nam biên tái lục(2) chép về châu Quỳ Hợp rằng: "xưa Quỳ Hợp vốn tên là Tồn Bồn Man, phụ thuộc Ai Lao, từ khi Thái Tổ khai quốc mới vào tiến cống, đến nay lại tiến voi, có chiếu đổi thành châu Quỳ Hợp". Vậy thì Bôi Bồn Man trong bia ma nhai này hẳn là Tồn Bồn Man, tức Bồn Man.
Còn Xa Man nhắc đến trong ma nhai chỉ thấy ở Tây nam biên tái lục, mục tháng 3 năm Quang Thuận 8 Lê Thánh Tông (1467): "Tổng quản Khuất Đả cùng Thông chính ti Tả thừa Thiên Nhân Thọ... chiêu hàng giặc Ai Lao là bọn Đạo Đồng rồi đem quân chiến thắng trở về. Trước đó, quan quân đến châu Mộc Gia Hưng cùng ba trăm thổ binh đến thẳng sách Câu Lộng sông Mã đóng quân nửa tháng... Bọn Đạo Đồng đến cửa trại hàng, Khuất Đả bèn lệnh cho Mộc châu kinh lược Xa Man sửa xong ải cũ, cùng thổ quan Đạo Sầm La đốc xuất thổ binh trấn giữ, bọn Khuất Đả đem quân chiến thắng trở về". Theo điều ghi chép này thì Xa man hẳn là ở đất Châu Mộc phủ Gia Hưng. Vậy thì Xa Man là một nhánh trong nhiều bộ lạc Ai Lao ở dọc biên giới tây Việt Nam.
Nhờ đoạn văn khắc trên núi đá của Nguyễn Trung Ngạn, ta biết chắc rằng việc Bôi Bồn Man quy phụ ViệtNam đã diễn ra từ thời Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, tức là trước năm 1335. Đó là một thông tin có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam với các dân tộc ở biên cảnh.
Trở lên là giá trị sử liệu. Còn về văn học, đây cũng đáng coi là một áng văn xuôi đặc sắc đáng quý. Đặc điểm nổi bật nhất của nó là tính hàm súc: chứa đựng một hàm lượng ngữ nghĩa tối đa trong một khuôn khổ ngữ liệu tối thiểu. Vẻn vẹn 155 chữ, kể cả dòng lạc khoản mà tác giả đã trình bày cả một sự kiện lịch sử lớn lao, kể từ nguyên uỷ của cuộc chinh phạt, vạch hết tội lỗi của đối tượng viễn chinh, sau đó tường thuật quá trình diễn biến của chiến dịch, từ việc các nước và các bộ tộc khác đều tranh nhau đón tiếp, dâng tiến các sản vật địa phương trong khi đó tên nghịch Bổng vua nước Ai Lao không đến chầu, đến việc Thái thượng hoàng đế dừng nghỉ ở cánh đồng Mật Châu Cự Đồn và ra lệnh tiến công, quân giặc tháo chạy. Thái thượng hoàng đế xuống chiếu khải hoàn ban sư.
Có thể nói mỗi từ mỗi chữ dùng đều được cân nhắc thận trọng để đặt vào đúng vị trí không thể thiếu được: từ quyến làm định ngữ cho chữ mệnh làm tân ngữ của động từ thụ mà lời dịch của chúng tôi không chuyển hết nghĩa được. Từ tối nhĩ (bé nhỏ, nhỏ bằng bàn tay) làm định ngữ cho từ Ai Lao cốt để hạ thấp vị thế của đối phương. Cũng như vậy từ nghịch làm định ngữ cho Bổng.
Về phương diện cấu trúc câu, thiết tưởng cần nêu bật tính chặt chẽ, hợp lý của câu thứ ba, ở đó một phức chủ ngữ gồm nhiều vế đẳng lập được sắp xếp có tầng bậc phân minh: liên từ cập nối liền hai từ tổ đẳng lập, từ tổ thứ nhất chỉ một nhóm 3 nước Chiêm Thành quốc, Chân Lạp quốc, Tiêm quốc, và từ tổ thứ hai chỉ các Man tù, nhóm các Man tù này lại gồm 2 loại, loại cũ gồm Đạo Khuông và Quỳ Cầm Xa Lặc, loại mới quy phụ (tân phụ) là Bôi Bồn man gồm các bộ Đạo Thanh và Xa Man, đi với một phức vị ngữ gồm 2 động tổ đẳng lập là "các phụng phương vật" và "tranh tiên nghênh kiến". Riêng với 3 nước Chiêm Thành, Chân Lạp và Tiêm quốc, tác giả đã rất tinh tế ghi rõ cho Chiêm Thành quốc 2 chữ Thế tử để nói lên thái độ trọng thị và tôn kính của nước ấy đối với vua Trần, và cũng là sự ghi nhận của vua Trần đối với họ, trong sự so sánh với các nước thần phục khác.
Đương nhiên là ở tầm cao tư tưởng ngày nay, chúng ta có thể trách tác giả bài văn đã thể hiện một thái độ trịch thượng sặc mùi bành trướng Đại Việt trong cách nhìn nhận các nước láng giềng, cũng như cách gọi các dân tộc thiểu số ở vùng biên ải là man và quân lính của họ là man di chi binh.
Nhưng âu đó cũng là hạn chế của thời đại, một thời đại cường thịnh của đế chế Đại Việt đang say sưa với chiến công oanh liệt đánh thắng đế quốc Nguyên Mông lừng lẫy liên tiếp 3 keo liền trước đó chưa xa.
Riêng từ góc độ sử dụng ngôn ngữ mà xét, phải nói rằng tác giả đã chọn đúng một phương án tối ưu trong dùng chữ đặt câu, nêu một mẫu mực về văn phong trong bi kí chữ Hán của nước nhà.
皇越陳朝第六帝、章堯文哲太上皇帝,受天眷命,奄有中夏,薄海內外,罔不臣服。蕞爾哀牢,猶梗王化。
歲在乙亥季秋,帝親帥六師巡于西鄙,占城國世子,真臘國、暹國及蠻酋道匡、葵禽車勒,新附杯盆蠻酋道聲、車蠻諸部各奉方物,爭先迎見。獨逆俸執迷,畏罪未即來朝。季冬,帝駐蹕于密州巨屯之原。乃命諸將及蠻夷之兵入于其國。逆俸望風奔竄,遂降詔班師。
時開祐七年乙亥冬閏十二月日勒石。
Chú thích:
1. Nguyễn Tài Cẩn: Ảnh hưởng Hán văn Lý Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn
2. Ký hiệu A. 490/2, Viện nghiên cứu Hán Nôm.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.48-55