7. Về tấm bia đá của làng Hoàng Lao (TBHNH 2000)
VỀ TẤM BIA ĐÁ CỦA LÀNG HOÀNG LAO
HOÀNG HỒNG CẨM
Tiến Sĩ. Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Làng Hoàng Lao xưa còn có tên rất nôm là Kẻ Lao. Làng nằm ngay bên cửa sông Cấm để ra biển đông và đối diện với cảng biển Cửa Lò ngày nay. Từ cuối đời Nguyễn, làng mang tên Trung Kiên, là một trong ba làng cổ của xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Địa thế của làng khá hữu tình, có bến có sông trước mặt, có núi với đình chùa miếu điện sau lưng với bao nhiêu câu chuyện huyền ảo thực hư về quê hương về làng nghề. Suốt những năm tháng chiến tranh ác liệt, qua thời kỳ bao cấp và ngày nay trong cơ chế thị trường biết bao khó khăn, biết bao trắc trở nhưng hầu như lúc nào ở làng nghề này vẫn không sao nhãng một nghề mang tính truyền thống: đó là nghề đóng tàu đi biển. Nét văn hóa của làng luôn được giữ gìn không chỉ bởi số con em đi xa học hành lập nghiệp mà còn ở từ những người dân bám trụ quê hương, vừa dũng cảm chiến đấu để bảo vệ miền duyên hải cùng làng nghề của cha ông.
Rất khâm phục và quí mến con người cùng làng nghề trong đợt sưu tầm vừa qua chúng tôi đã in dập được một thác bản bia của tâm bia duy nhất còn lại ở làng. Đó là tấm bia bốn mặt được làm vào năm Chính Hoà thứ 17 (1696).
Có thể coi đây là tài sản quý giá mà nhân dân đã dày công bảo vệ. Trong khi cả hệ thống từ đình chùa đến miếu điện của làng đều bị pháo kích từ Hạm đội VII cầu vào đốt cháy nham nhở, thì tấm bia vẫn còn nguyên bốn mặt chữ rõ ràng, được bảo vệ trong một mái che cẩn thận.
Tâm bia tuy mở đầu là bia ghi hậu (bia hậu thần), nhưng nội dung thực sự là một chứng nhân lịch sử, một khoản ước biểu hiện bằng đã của làng. Chúng tôi rất muốn được giới thiệu toàn bộ nội dung tấm bia, nhưng vì giới hạn bài viết, nên chỉ xin được trích dịch những mảng nội dung chủ yếu để chúng ta cùng được chia sẽ và rộng đường tham khảo.
* Mặt thứ nhất:
BÀI KÝ TRÊN BIA HẬU THẦN
Bài ký trên bia hậu thần xã Hoàng Lao, huyện Hưng Nguyên, Phủ Anh Đô.
Ôi! Thông minh chính trực ấy là thần. Bởi thế được hưởng sự dâng cúng muôn đời. Phải nhờ vào đại phúc đức, đại lực lượng nếu không sao có thể được người sau thờ cúng, được mọi người kính nể phụng thờ như thế.
Nay bản xã từ quan viên đến già trẻ gái trai, trộm thấy: Lệnh công là người có tài cao, nhiều mẹo lược, trí tuệ hơn người, trong lòng sẵn có qui củ chuẩn thước, bàn tay điêu khắc nên hình chim phượng, trí lực tựa như cỗ máy vậy. Ông cứ tự nhiên như nhiên mà làm thành thuyền rồng. Coi như ông đã tiếp nhận được tiềm ẩn của ông cha, ngưỡng trông lên ân của đức vua. Ông được cai quản dân binh tương cục. Nêu có lộc hậu và điền trang khuê các, được thăng chức Tổng đốc và có quyền hành được phong tước Hầu, tước Bá. Duyên đẹp như chim loan chim phượng, gia đình hòa thuận ấm êm, con cháu quây quần vui vẻ, thấy rõ cái phúc của gia đình. Trước mặt thấy được con cháu sinh sôi, có đủ cả con trai con gái, chăm lo đến việc bố thí cho dân làng, ban tiền của xây dựng đình chùa. Mọi người đều rất thân ái với ông và kính bầu ông làm hậu thần năm tháng đều có lễ nghi cúng tế. Cái ân huệ của ông đã làm rạng rỡ gia đình trong điển triết. Mà lệ cúng giỗ đó cũng đã có trong điển tịch của làng, xin được vào ngày khai hạ hàng năm, tỏ rõ việc mang ơn ông như núi cao biển rộng. Bèn lập bia này ghi lên lời thề son sắt truyền lại cho con cháu đời sau. [Bia] sẽ cùng thiên địa dài lâu, cùng nhật nguyệt sáng ngời rủ xuống muôn ngàn đời mai hậu. Vậy khắc vào đá cứng để ghi lại.
* Mặt thứ hai:
Đền thờ trong xã nhà bắt đầu làm tư năm Đinh Dậu (1657) theo hướng Tây Bắc. Đến năm Canh Tuất (1670) làm thêm một tòa tiền đường ba gian, đã bị hư hỏng. Lại đến năm Kỷ Mùi (1679) làm thêm các tòa nhà trên dưới đều ba gian.
- Năm Bính Thìn (1676) bắt đầu dựng trại đóng thuyền và đóng được sáu chiếc.
- Một khu đất tại bến đò Tam Bảo.
- Tháng sáu năm Canh Ngọ (1690) đúc một quả chuông lớn nhờ công của các ông bà:
+ Ông hội chủ: Nguyễn Hỡi cùng vợ là Nguyễn Thị Ngọ,
+ Các ông phó hội chủ: Nguyễn Viết Hiệu vợ là Hoàng Thị Ngọc, Hoàng Kim Bảng vợ là Phạm Thị Hạc.
Trong năm ấy đào xây một giếng chùa, dựng thêm một tòa đình ba gian hai chái.
Vốn bản xã hàng năm đến lễ thờ thần có tổ chức hát ca. Cứ mỗi năm có hai dịp là đêm mồng năm tháng giêng và đêm mồng mười tháng bảy. Năm Canh Ngọ (1690) nhờ có lễ kỳ đảo bói được quẻ tốt bèn nhập chung vào một đêm mồng năm tháng giêng.
Ngày mười tháng mười hai năm Ất Hợi (1695) làm chùa Phổ Nghiêm cùng gác chuông, có công đầu của ông hội trưởng Nguyễn Hỡi và vợ Nguyễn Thị Ngọ. Các người trong xã đều có công là:
+ Đội trưởng Nguyễn Đăng Khoa vợ Phạm thị Mại cúng sáu cây cột nhỏ.
+ Ông quan viên tước Phương Thọ bá Nguyễn Viết Hiệu vợ Hoàng Thị Ngọc cúng bốn cây cột nhỏ.
+ Lại xã Hoàng Kim Bàng vợ Phạm Thị Hạc cúng hai cây cột nhỏ và một cây xà.
+ Tiền triều Minh Nghị tướng quân xa kỵ vệ tổng tri ty Tổng tri cai hợp tước Hoa Tài hầu họ Nguyễn tự Chí Đức thụy là Quảng Độ phủ quân đã được bầu là Hậu thần có bà chính thất Hoàng Thị Ước đã cúng cho bản xã một số tiền đủ để làm một ngôi đình ba gian hai chái, có tám cột lớn, mười sáu cột bé, kim chiêng và hai trăm quan tiền.
- Theo lệ cúng Hậu thần để cúng giỗ cho ông, để mãi mãi thành lệ về sau...
* Mặt thứ ba:
CHUÔNG ĐÌNH, GIẾNG, BẾN
Kê: Hai vị hậu thần là ông và bà. Hàng năm cứ vào ngày giỗ, mỗi giỗ bản xã phải biện lễ gồm: lợn một con, xôi một mâm rượu một vò, chuẩn bị đầy đủ sạch sẽ và mang đến nhà thờ [của hai vị hậu] cung kính làm lễ. Lễ xong, chủ tế chia đều cho người trong họ, trong làng. Lệ này để làm mãi mãi không thể đổi thay.
- [Ở đình] Cứ đến lễ cầu phúc cũng bày biện các lễ kể cả hậu thần và thổ kỳ. Hàng năm cũng sắm lễ như nhau...
Tôn sùng thánh đạo, xây dựng đền miếu ba gian quay về hướng Tâyu bắc. Hàng năm cứ vào tháng hai thì biện lễ vật kính tế để tỏ lòng trân trọng thánh đạo. Để các nho sĩ và con cháu tiếp tục noi theo mà làm việc đó, trông mong vào công hiệu của Thánh.
- Lệ tết Nguyên đán: sáng sớm ngày mồng một nghe ba hồi chín tiếng trống thì tất cả già trẻ gái trai trong bản xã đều áo quần tề chỉnh, khăn mũ nghiêm trang cùng đến để làm lễ theo nghi thức mừng tiết đầu xuân. Đến ngày mồng ba tết kính bày lễ vật gồm: xôi năm mâm, gà luộc năm con dâng lên kính cúng để tỏ lòng kính cẩn thần minh. Nếu thiếu thì phạt mỗi người một mạch tiền cổ để giữ nghiêm khoán lệ.
- Lệ thờ thần tháng chạp: hàng năm bản xã từ lão nhiêu đến trai mười tám tuổi, cứ mỗi người đóng mười lăm tiền để chi dùng cho việc sắm lễ vật như: lợn, xôi, bánh dày, nay tăng thêm cỗ bánh chưng để tỏ lòng kính thần. [Vì vậy phải đóng thêm] quan chức mỗi người góp năm phong(1) trùm xã mỗi người góp bốn phong, con cháu quan viên cùng các cai đội mỗi người góp ba phong. Từ chức Tam bàn trở lên mỗi người góp hai phong. Lấy kính cẩn thờ thần làm lễ, lấy giáo hóa thuần hậu làm tục. Cứ đến ngày lễ tháng chạp, nghe ba hồi chín tiếng trống đều chỉnh tề áo mũ tề tựu đến đền làm lễ. Lễ xong sẽ cùng nhau ăn uống vui vẻ, để tỏ rõ việc nhận ơn huệ của thần linh, để làm sáng rõ phong tục hòa mục của làng xóm. Ai thiếu, nếu là quan viên thì phạt mỗi người một mạch tiền cổ. Nếu là lão nhiêu, thứ dân thì phạt mỗi người 30 viên tiền cổ và tước đoạt danh phận của người đó. Để hun đúc phong tục thuần hậu của làng xóm giữ nghiêm khoán ước.
* Mặt thứ tư:
CÁC KHOẢN ĐIỀU LỆ
Trong bản xã đã có lệ định giá cho các loại thuyền mà những gia đình có truyền thống có am hiểu việc đóng thuyền từ triều trước và việc mua bán thuyền của mọi người. Nhưng thấy lệ này không tiện. Đến năm Ất Mão (1675) ông quan viên tước Phàn Lộc bá Nguyễn Viết Tôn bổ sung thêm các điều lệ đó bản xã lưu truyền làm thờ mãi mãi về sau.
Hễ hàng năm người nào đóng được chiếc thuyền với giá tiền đồng, mỗi chiếc thu được bao nhiêu quan thì trích thu mỗi quan ba văn tiền cổ, đem nộp quan viên tước Phàn Lộc bá thu lại làm tiền chi vào các dịp lễ tỏ ý kính tiên sư. Việc ấy xưa nay vẫn theo thế.
- Hoặc có người mới gia nhập phường nghề, phải có lễ là: tiền cổ năm mạch, rượu một vò, trầu cau trên trăm miếng.
- Thảng hoặc có người bán thuyền không thu lệ, hoặc bán được giá cao mà nói là giá thấp, hoặc chưa nộp mà nói nộp rồi, thì đưa việc đó đến nơi công sở tra xét, đúng sự thực thì phạt tiền ba quan và truy thu toàn bộ số tiền còn nợ để giữ tại bản phường chi dùng, trừ thói ngoan bướng ngang ngạch, giữ nghiêm khoán lệ.
- Xã ta cốt về giáo hóa dần dần đi theo thánh giáo, văn cũng được đợi ân văn của các bậc tiên hiền. Thân người ta đã mang đạo đức và đã trau dồi cho mình điều nhân nghĩa. Ban ngày thì ra sức làm việc, ban đêm thì nghỉ ngơi. Nếu như có người nào không kể nam nữ ban đêm đánh chửi nhau, kêu gào hò hét. Nếu là vợ chồng phạt một quan tiền cổ; nếu là kẻ khác thì cũng phạt chúng một quan tiền cổ. Để ngăn cấm việc thù oán lẫn nhau, để ngăn cấu gây bè cánh, thâm thù trong thân thích làng xóm. Kẻ nào lấy cớ can gián mà tham gia ẩu đả hỗn hào cũng bị phạt mỗi tên một quan tiền. Để nghiêm khoán ước.
- Xã có lệ định về ngày nhập tàng qui(3), hai giáp phải bày đồ vật tế khí trong đình. Đội đến khi nào các vị quan viên thấy việc bảo quản tốt thì được thưởng tiền một quan. Hễ cứ mỗi đêm cắt người nào túc trực phải tề chỉnh áo mũ lễ bái. Nếu vô ý đổ lộ đầu ra thì bị phạt một mạch tiền.
Đây chính là để giữ nghiêm lệ thờ cúng.
Ngày làng tháng 7 năm Bính Tý niên hiệu Chính Hòa thứ 17 (1696).
- Chức Ái châu Tĩnh Nông tiên mộc Cấp sự trung khoa là ông Tống Thuần Phu soạn lời văn bia.
- Chức Thị nội thư Tả hộ phoên là ông Phùng Tuấn Tài viết chứ.
- Ông Lê Văn Yêm ở độ Phạt thạch khắc chữ.
Lời văn của bốn mặt bia quả là một kiệt tác. Áng văn chỉ kể về một số sự kiện, về các luật lệ, nhưng lời văn thật là “cật khuất ngao nha” (rối rắm, khó hiểu) gây cho người dịch không ít khó khăn. Tuy vậy, cũng qua lời văn đó ta thấy ngoài đình đền chùa, làng Hoàng Lao xưa đã có một miếu thờ tiên hiền và ở làng cũng đã có hội tư văn - hội của những người có theo học thánh hiền. Làng nghề không những chỉ có thợ mà còn có người học rộng biết nhiều. Bởi vậy lời khoán lệ rất rõ ràng mà chi tiết, các qui định tuy nhỏ nhưng đủ để ngăn những thói xấu như “thù oán lẫn nhau” “gây bè kết cánh” “thâm thù trong thân thích làng xóm”...
Bia là một tài sản vô giá, một pho sử bằng đá của làng. Việc làm thêm mái bảo vệ cho bia là một việc làm hết sức hữu hiệu của dân làng. Thay mặt những người làm công tác sưu tầm vốn cổ, chúng tôi xin gửi tới nhân dân và các vị lãnh đạo của làng Trung Kiên lời cảm ơn chân thành.
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.71-79