VI | EN
71. Tư liệu Hán Nôm Nam bộ qua mấy đợt sưu tầm gần đây của bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học và Ngôn ngữ (Đại học KHXH & NV TPHCM) (TBHNH 2012)
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.581-590)

TƯ LIỆU HÁN NÔM NAM BỘ QUA MẤY ĐỢT SƯU TẦM GẦN ĐÂY CỦA BỘ MÔN HÁN NÔM KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ (ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP.HCM)*

NGUYỄN NGỌC QUẬN - LÊ QUANG TRƯỜNG

Đại học KHXH & NV TPHCM

1. Công tác sưu tầm tư liệu Hán Nôm

Công tác sưu tầm tư liệu Hán Nôm trên khu vực Nam Bộ đã được Bộ môn Hán Nôm thuộc khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm và đến nay vẫn được duy trì. Hằng năm, khoa tổ chức đi điền dã, sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại các tỉnh Nam Bộ và số tư liệu ấy được Phòng Tư liệu của khoa lưu trữ và khai thác nghiên cứu.

Năm 2011, khoa đã nhận nhiệm vụ xây dựng Dự án Đầu tư xây dựng Phòng nghiên cứu và sưu tầm di sản Hán Nôm do Đại học Quốc gia Thành phồ Hồ Chí Minh giao phó; có thể nói đây là một sự hỗ trợ lớn để chúng tôi tiếp tục tập trung cho công tác sưu tầm và nghiên cứu khai thác tư liệu Hán Nôm ở khu vực Nam Bộ được toàn diện hơn. Vì vậy, công tác sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại khu vực Nam Bộ được đặt lên hàng đầu và bước đầu thu được kết quả nhất định.

Tiến hành sưu tầm tư liệu Hán Nôm, chúng tôi đã:

- Xác định những khu vực trọng điểm, tập trung vào những di tích lịch sử văn hoá ở Nam Bộ có lưu trữ các tư liệu Hán Nôm. Trên bình diện rộng, đã khảo sát 49 điểm thuộc các tỉnh từ Bình Thuận trở vào đến Cà Mau, đồng thời tập trung vào những di tích lịch sử văn hoá của các điểm, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có nhiều di tích cổ còn lưu giữ được tư liệu Hán Nôm chủ yếu của những người Minh Hương di dân.

- Tiến hành ghi chép, chụp ảnh tất cả những tư liệu Hán Nôm ở các di tích như hoành phi, câu đối, bài vị… Đối với bia đá, chuông đồng, ngoài việc chụp ảnh, chúng tôi còn tiến hành dập bản văn khắc bằng giấy dó. Ngoài ra, còn thu thập tư liệu theo các hình thức khác như mua, trao đổi, photocopy, scan số hoá… từ những nơi có lưu trữ tư liệu Hán Nôm trong cả nước.

Được sự giúp đỡ các cơ quan, thư viện, các cá nhân có lưu trữ tư liệu Hán Nôm, chúng tôi đã tiến hành sao chụp và số hoá được gần 1000 đầu sách, số trang lên đến 287.000 trang với các thể loại chủ yếu như văn học, văn hoá, lịch sử, tôn giáo…

Ngoài ra, trong quá trình điều tra sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại các điểm trong khu vực từ Bình Thuận vào đến Cà Mau, chúng tôi cũng đã thu thập được gần 100 bản dập văn bia, 230 đầu sách và khoảng 10 nghìn đơn vị hoành phi, câu đối, sắc phong… Số tài liệu này hiện đang được chúng tôi lập danh mục để đưa vào sử dụng.

Đến nay, có thể nói về cơ bản Phòng Nghiên cứu và Sưu tầm di sản Hán Nôm đã thành hình và gấp rút lên thư mục để chuẩn bị đi vào hoạt động phục vụ bạn đọc. Tuy nhiên, từ tình hình đi sưu tầm điền dã thực tế cho thấy, tư liệu Hán Nôm trong dân gian có trữ lượng khá lớn và phong phú cần được sưu tầm, giữ gìn bảo quản. Nhận thức rõ điều đó, chúng tôi xác định sẽ tiếp tục triển khai các đợt đi sưu tầm và có phương hướng khai thác nghiên cứu cũng như công bố các tư liệu Hán Nôm.

2. Một vài loại hình tư liệu tiêu biểu

Ngoài số lượng tư liệu Hán Nôm khá lớn mà chúng tôi có được từ việc sao chụp và số hoá ở các cơ quan thư viện lớn trong nước đã nêu trên, trong những chuyến đi điều tra sưu tầm vừa qua, bước đầu chúng tôi đã thu thập được các tư liệu Hán Nôm có giá trị như sau:

Bản khắc gỗ: ở một số chùa cổ của người Việt và người Hoa hiện còn lưu giữ một số bản in khắc gỗ như chùa Bửu Lâm ở Tiền Giang, Thất Phủ miếu (thường gọi chùa Ông) ở Vĩnh Long. Tại chùa Bửu Lâm, các bản khắc gỗ chủ yếu là kinh và các đồ hình khuyến tu, nhưng ở Thất Phủ miếu thì còn hơn 50 bản khắc gỗ có nội dung bói toán đoán xăm được làm theo thể thơ thất ngôn và số ít bùa chú…

Hoành phi, câu đối: loại hình văn khắc Hán Nôm trên biển gỗ, đá như hoành phi, câu đối, bài vị… được chúng tôi sao chép, chụp ảnh, thu thập rất nhiều ở các đình chùa cổ trên nhiều địa phương vùng Nam Bộ. Nội dung phong phú, chữ viết đa dạng sinh động thường thấy trong những ngôi cổ đình cổ tự, như chùa Châu Thới ở Bình Dương; chùa Giác Lâm, Giác Viên, Phụng Sơn, đình Minh Hương Gia Thạnh, hội quán Hà Chương, hội quán Tam Sơn, chùa Ông Bổn… ở Thành phố Hồ Chí Minh; chùa Bửu Lâm, Vĩnh Tràng, đình Điều Hoà… ở Tiền Giang; Văn miếu ở Vĩnh Long, miếu Thoại Ngọc Hầu và quần thể chùa chiền ở Châu Đốc, An Giang… Số tư liệu này có thể nói là đáng quý trong công tác nghiên cứu văn hoá cũng như trong lĩnh vực nghiên cứu văn tự.

Văn bia: văn bia tại khu vực Nam Bộ không đáng kể so với vùng Bắc Trung bộ, Bắc bộ, và cũng chính vì thế mà nó lại trở thành quý đối với việc sưu tầm loại hình văn khắc đặc thù này. Trong đợt sưu tầm vừa qua, chúng tôi cũng đã cố gắng vừa chụp ảnh ghi tư liệu, vừa dập văn khắc bằng giấy dó nhằm giữ gìn một chứng tích văn tự khắc trên đá khá đặc biệt này. Nhìn chung, những văn bia mà chúng tôi thu thập chủ yếu có 3 loại chính: một là mộ chí, chỉ ghi tên họ, chức tước của người đã mất; hai là bia ghi tên những người có công đức trong việc xây đình hoặc trùng tu đình, chùa; ba là những bài bi minh ghi lại hành trạng, thuật lại công đức của người quá cố hoặc ghi việc có ý nghĩa nào đó.

Loại một và hai thì khá nhiều như: bia mộ Võ Trường Toản do Phan Thanh Giản viết, bia mộ của Nguyễn Đình Chiểu và các con ở Bến Tre; bia mộ Nguyễn Hữu Huân ở Tiền Giang; bia mộ Phan Chu Trinh, bia mộ của Lê Văn Duyệt và văn bia của người Hoa ở Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; văn bia và di tích Hán Nôm trong khu di tích họ Mạc ở Hà Tiên… Loại ba chỉ có một số ít như: văn bia Văn Thánh miếu Vĩnh Long, Phan Thanh Giản soạn (1866); Văn bia di chúc của Trương Thị Loan (con gái Trương Ngọc Lang); Văn bia kỷ niệm Tống Hữu Định và giới trí thức trùng tu Văn miếu vào năm 1903; Văn bia mộ ông Nguyễn Thế Khánh; Văn bia Bá hộ Nọn Trương Ngọc Lang (Trọng Tiên)… ở Vĩnh Long, Văn bia ghi việc đào kênh Bảo Định hoặc bài văn bia ở mộ của Phan Hiển Đạo, của Nguyễn Văn Thạnh ở Tiền Giang, bài văn bia của Đào Trí Phú viết đề trên mộ song thân ở Đồng Nai…

Sắc phong: thu thập được phần lớn các sắc phong tại các đình, miếu cổ trên địa bàn Biên Hoà, Tiền Giang, Vĩnh Long… Do Nam Bộ là vùng đất mới, nên sắc phong ở đây ít khi thấy có niên hiệu trước triều Nguyễn, mà thông thường bắt đầu từ triều Nguyễn. Tuy nhiên cũng rất ít khi thấy được sắc phong có niên hiệu Gia Long, Minh Mạng mà thường thấy nhất là những sắc phong ghi niên hiệu vua từ Thiệu Trị, Tự Đức… và các đời sau của triều Nguyễn (xem hình sau).

Hiện nay, nơi còn lưu giữ nhiều sắc phong nhất của khu vực Nam Bộ là Công Thần miếu (còn gọi là miếu Hội Đồng) ở Vĩnh Long. Riêng tại đây, chúng tôi đã chụp được toàn bộ 85 sắc phong (đời Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái) và 3 đạo sắc lệnh (1 đạo vào đời Tự Đức, 2 đạo vào đời Thành Thái) liên quan tới Nguyễn Văn Phong từng giữ chức Hồng lô tự khanh, Bố chính sứ tỉnh Quảng Nam và mẹ của ông là bà Nguyễn Thị Lê (xem hình sau).

Tại Tiền Giang, nhiều đình cũng đang lưu giữ các sắc phong thời Nguyễn như đình Điều Hoà, đình Thạnh Trị, đình Mỹ Chánh… ở Thành phố Mỹ Tho, đền thờ Võ Tánh tại Thị xã Gò Công. Ngoài ra, tại các đình thần ở những nơi khác cũng đang lưu giữ các sắc thần nhưng do tục lệ địa phương nên tạm thời chúng tôi chưa có dịp để thu thập.

Sách: số sách Hán Nôm thu thập được tuy không nhiều và không phong phú về thể loại, nhưng vẫn có những cuốn mang giá trị nhất định khi nghiên cứu về chữ Nôm miền Nam. Từ tình hình thực tế cho thấy, những người dân còn lưu giữ tư liệu Hán Nôm một là do ưa thích mà giữ, hai là lưu giữ như một di vật của ông cha tổ tiên để lại vì vậy họ không cho tiếp cận, ba là giữ tư liệu Hán Nôm nhưng không bảo quản, vì vậy bị mối mọt, nước lửa làm tàn khuyết hết.

Nhìn chung số sách thu thập về có thể chia thành các loại chính như: loại sách văn chương, lịch sử, khoa cử, loại sách thuốc, bói toán, kinh sách tôn giáo… Những sách bói toán, sách thuốc tuy ít có giá trị về nội dung khoa học, nhưng do nó được diễn âm Nôm, do đó nó lại có giá trị để nghiên cứu về chữ Nôm Nam Bộ.

Có thể cử một số sách như bộ Kim cổ kỳ quan gồm 9 quyển với trên 1200 trang của Nguyễn Văn Thới (Ba Thới) viết bằng chữ Nôm, tập văn tế chữ Nôm Gia lễ tập thành trên 100 trang không rõ tác giả, cùng nhiều sách chữ Nôm mất tên sách khác, Tứ tài tử thi, Đại Nam quốc sử diễn ca (bản chép tay), Du già bí mật hành trì pháp nghi, Lịch truyện tổ đồ (chép tay), gần 3000 trang tư liệu Hán Nôm loại giấy tờ chép tay của đình Minh Hương tại Vĩnh Long…

3. Mấy suy nghĩ về tư liệu Hán Nôm tại Nam Bộ

- Trữ lượng tư liệu Hán Nôm tại Nam Bộ còn khá nhiều nhưng vẫn chưa thu thập và khai thác hết.

- Trong tư liệu Hán Nôm tại Nam Bộ, một bộ phận rất ít mang tính văn chương, hầu hết mang tính ghi chép thực dụng, nhưng nhìn chung có thể giúp ích cho việc tìm hiểu về phương diện lịch sử văn hoá của con người và vùng đất này.

- Có những di tích cổ có tư liệu Hán Nôm nhưng không được giữ gìn kỹ lưỡng để mối mọt xâm hại, có khi sơn phết phục chế không đúng quy cách làm ảnh hưởng và hư hỏng.

Từ thực tế cho thấy, cần phải đẩy nhanh công tác sưu tầm và lưu trữ tư liệu Hán Nôm tại khu vực Nam Bộ, góp phần bổ sung vào kho tư liệu chung của toàn dân tộc, đồng thời có kế hoạch tiến hành khai thác, nghiên cứu và công bố tư liệu. 


Chú thích:

* Bài viết sử dụng tư liệu từ dự án xây dựng "Phòng Nghiên cứu và sưu tầm di sản Hán Nôm" của Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG TPHCM. Nhân đây, chúng tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho chúng tôi sử dụng các tư liệu trong bài viết này.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.581-590)

Nguyễn Ngọc Quận - Lê Quang Trường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm