VI | EN
77. Sách giáo dục của người Dao - đôi điều suy nghĩ (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

SÁCH GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI DAO

ĐÔI ĐIỀU BÀN THẢO

PHẠM THỊ THẢO

Khoa Ngữ văn - Trường ĐH Tây Bắc

Bài viết là một phần kết quả nghiên cứu về thư tịch cổ của người Dao thông qua đề tài tham gia dự án quỹ học bổng Hán Nôm - Harvard - Yenching. Vì thế thông qua bài viết nhỏ này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Quỹ học bổng Hán Nôm - Harvard - Yenching. Đây là một dự án rất có ý nghĩa vì nó đã giúp cho chúng tôi, những người ở xa trung tâm có điều kiện tiếp xúc với kho sách của Viện nghiên cứu Hán Nôm. Đồng thời có cơ hội tìm hiểu những nét văn hóa, những di sản quý báu của nhân loại. Bản thân tôi mong rằng Quỹ học bổng này tiếp tục được duy trì để chúng tôi và những người chưa nhận được hỗ trợ của quỹ có cơ hội tìm hiểu những tri thức mới.

1. Đồng bào Dao là một trong 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam. Dù là dân tộc thiểu số nhưng dân tộc Dao là một trong số ít các dân tộc có ngôn ngữ và chữ viết riêng. Hệ thống chữ viết này được hình thành do ảnh hưởng của văn tự Trung Hoa ở thời kì trung đại, mà ngày nay ta quen gọi hệ thống chữ viết đó là chữ Nôm Dao.

Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập. Đảng và Nhà nước ta song song với phát triển kinh tế, đã và đang chủ trương khơi dậy và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống trong đó có việc gìn giữ sự phong phú về tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam, mà trong đó có tiếng nói và chữ viết của người Dao.

Tuy nhiên, nguồn sách Dao cổ (mà ta quen gọi là chữ Nôm Dao) đang dần bị mai một vì những người đọc được loại chữ này đang dần một ít đi. Trong khi đó, thế hệ trẻ của người Dao lại lơ là, thờ ơ với việc học chữ của cha ông mình. Sách Dao cổ là nguồn tư liệu quý báu lưu giữ giá trị đời sống tinh thần và phong tục tập quán của chính đồng bào Dao. Hơn thế, nó còn là bằng chứng cho sự hiện hữu của một loại chữ viết được du nhập có sáng tạo, thể hiện trình độ tư duy, bản lĩnh tự chủ của người Dao muốn tách khỏi văn hoá Trung Hoa. Nếu kho sách này không được thu lượm và lưu giữ kịp thời thì rất có thể một ngày nào đó người ta sẽ không còn khái niệm về một loại văn tự của người Dao. Hoặc có chăng nếu chữ viết còn, người đọc lại không còn thì nó chỉ như một di vật vô tri để trong bảo tàng và mãi là bí ẩn. Kéo theo đó là kho tư liệu quý về đời sống văn hóa, phong tục, văn minh của một tộc người trong 54 dân tộc anh em Việt Nam sẽ mãi mãi bị vùi lấp. Đó là chưa nói số sách này có khi còn không kịp sưu tập vào bảo tàng mà bị lưu lạc, mai một trong dân gian.

2. Trong quá trình sưu tầm, tìm hiểu, nghiên cứu sách cổ của người Dao, bản thân tôi nhận thấy kho sách này lưu giữ và ẩn chứa rất nhiều tư liệu quý. Trước hết nó phản ánh trình độ văn minh, tinh thần hiếu học và trọng tín nghĩa của người Dao xưa. Đồng thời, nó cho thấy sự ảnh hưởng đậm nét của quan điểm giáo dục Trung Hoa mà tiêu biểu là quan điểm giáo dục của đạo Khổng.

2.1 Vài điều về hình thức dạy - học của người Dao xưa

Người Dao xưa rất trọng sự học. Theo khảo sát thực tế tại địa bàn các xã có phần lớn người Dao sinh sống như Phiêng Luông, Vân Hthuộc huyện Mộc Châu - Sơn La thì số sách được truyền đời để lại nhằm dạy học cho thế hệ sau lên đến 14 tập. Sách có phân bố chương trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ những bài học làm người đến những tri thức về thiên - địa - nhân… Tất cả đều được trình bày một cách ngắn gọn, dễ hiểu, dễ học nhờ lối viết văn vần và những ví dụ gần gũi về cách ứng xử với những người trong cùng dòng tộc hay thôn bản.

Người Dao không mở lớp học thường xuyên theo năm mà lớp học chỉ được mở vào những năm nhuận. Mỗi tháng kiểm tra hai lần vào ngày mồng một và mười lăm (âm lịch). Trong những ngày kiểm tra, trước tiên phải cúng thần chữ và những người đã có công truyền lại sách cho con cháu đến ngày nay. Đồng thời còn cúng cả những cha ông của những người đang học nếu họ là những người biết chữ Nho. Từ xưa, học trò khi đến xin nhập học hay những buổi kiểm tra cúng thần cũng không cần đa lễ mà tuỳ hoàn cảnh của từng trò nhưng tuyệt đối không có thịt trâu, bò, dê, chó, ngựa. Học phí trả cho thầy hàng tháng cũng rất đơn giản, mỗi trò chỉ cần làm giúp gia đình thầy hai đến ba ngày công lên nương. Thầy trò tuy có khoảng cách nhưng rất gần gũi và thân thiết.

Cách thức học cũng rất đơn giản mà hiệu quả: thầy phát sách, trò tự học rồi hỏi bạn những chỗ khó hiểu, cùng nhau tự giải đáp, sau cùng mới hỏi thầy. Đến mỗi buổi kiểm tra, trò tự đọc một bài chào (bài viết về cung cách chào hỏi) hoặc một bài tiễn (bài viết về lúc tiễn biệt chia tay). Khó hơn thì thầy ra câu đố, trò giải đố hoặc các thành viên trong lớp tự ra câu đố với nhau. Đố chữ là cách làm phổ biến nhất: thầy lấy bút lông viết một đoạn trong sách đã học, thầy chỉ đến đâu, trò đọc và giải nghĩa đến đó, nếu đạt yêu cầu thì thầy đánh dấu mực chấm vào chỗ giải đúng. Cách dạy này đã tạo ra ý thức tự học cao, khả năng tư duy độc lập và đặc biệt là cách kiến giải vấn đề có chủ kiến. Sách xưa đã dạy:

Tốc su chuồnTri su lón

(Đọc được quyển sách, Phải biết chỗ nào sách loạn).

Quan điểm của người Dao xưa là phải có chính kiến khi đọc sách. Không phải cứ là sách thì luôn đúng. Người biết đọc sách không phải là người tuân theo mọi điều trong sách mà là người biết được cái gì nên theo, cái gì nên bỏ, cái gì cần xem xét lại. Tuy còn chưa rõ quan điểm giáo dục này ra đời cách ngày nay bao lâu nhưng một văn bản được coi là cuốn sách giáo khoa truyền lại cho con cháu được viết bằng khối văn tự cổ đã chứng tỏ lối tư duy rất biện chứng và khách quan của họ.

2.2. Sách giáo dục của người Dao luôn đề cao đạo đức con người

Nếu trong Tam tự kinh của Trung Hoa mở đầu rằng:

Nhân chi sơ, tính bản thiện

(Thuở ban đầu của con người, tính vốn thiện)

thì mở đầu của cuốn sách được coi là “vỡ lòng” của người Dao cũng viết:

Zờn tri cho, khai zờn xêm

(Thuở ban đầu của con người, phải khai nhân tâm)

Điều đó cho thấy người Dao rất xem trọng nhân tâm. Yếu tố này được thể hiện trong hầu khắp các cuốn sách thuộc loại sách giáo dục. Nhân tâm được giáo dục rất chi tiết và kĩ lưỡng vì nó là căn cội, là cơ bản của nhân tính con người. Cũng như các dân tộc khác sống trên lãnh thổ Việt Nam, cư dân người Dao từ xưa đã là cư dân nông nghiệp với cây trồng chính là lúa nương. Vì thế đạo đức làm người luôn được đề cao, còn là yêu cầu trước hết và liên tục. Đạo đức ấy trước hết thể hiện ở:

Tinh thần hiếu học

Ngay từ những cuốn sách ở cấp thấp nhất của chương trình học, người Dao xưa luôn nhắc nhở con cháu mình:

Xú hiếp xêm, ki - áo tốc su.

Xếch su thông, ki - áo tấu hào

(Dạy đọc sách, giải thích cho thông nghĩa sách.

Dạy cho đến tốt, học cho đến thông.)

Người dạy đọc sách phải giải thích cho thông nghĩa trong sách nhằm làm cho người học thông tỏ ngọn nguồn. Đồng thời người dạy cũng phải kiên trì, dạy cho đến khi học trò “tốt” (hiểu bài và thi triển được kiến thức của mình ra ngoài cuộc sống). Với người học thì phải học cho đến thông thuộc, tỏ tường. Sở dĩ như vậy là bởi xã hội người Dao dạy con người trước hết cần phải biết coi trọng sách:

Chiết su kênh,Oán sú thông.

Tốc su thông,Oán zàng thông,

(Biết ăn kinh sách, vạn chữ đều thông.

Đọc thông sách, vạn điều thông).

Ở đây người Dao không gọi là đọc sách mà gọi là “ăn kinh sách” bởi họ quan niệm người học thực sự phải là người chuyên tâm, chuyên chú vào sự học. Từng quyển sách đã học phải thuộc nhuần nhuyễn, học cả bằng tâm và bằng trí. Sách không còn là đối tượng để ta có thể chọn, có thể không nữa mà nó thiết thực như cơm gạo. Làm người cần đọc sách giống như người sống phải có cơm. Khi kinh sách đã ngấm vào người như cơm ngấm vào cơ thể thì vạn chữ, vạn điều đều thông tỏ.

Đặc biệt người Dao từ xưa đã rất coi trọng người thầy và nghề làm thầy. Thầy được nhắc đến trong các thư tịch cổ có hai đối tượng là thầy dạy học và thầy cúng. Cả hai hạng người này đều phải là những người có học vấn và phải học chữ Nho, đều là những học trò xuất sắc của những lớp học chữ Nho xưa.

Xếch sú thông,Tắc hềnh su.

(Hiểu biết chữ thông, được làm thầy)

Thầy giáo và thầy cúng đều là mục đích phấn đấu học tập của người Dao:

Zờn tốc su

Xếch sú xêm

Tắc hềnh su

Lếp phát mình

Tắc nhúc chiết

Tắc phán chiều

Tắc làm xín

Tắc nhúc tri.

Chàng y xam

Phốc là khoàn

Chốc y phốc,

Tắc thầu chi-un

Ki-ờn chếnh su

(Người đọc sách,

Biết được nghĩa chữ,

Sẽ được làm thầy,

Được phép đặt tên (cho người khác),

Được ăn thịt,

Được ăn cơm, uống rượu,

Được có uy tín,

Được thịt lợn (cầm về).

Trang phục áo,

Trang phục quần,

Đều được mặc đẹp,

Đầu còn được cắm kim bạc,

Được người khác kính cẩn gọi là thầy).

Hay:

Xếch sú thông

Tắc hềnh su

Hi-óc y-èn ỳ

Hi-óc phát su

(Hiểu biết chữ thông,

Được làm thầy.

Học ngôn ngữ,

Học đạo làm thầy).

Người Dao không chỉ kính trọng người thầy trực tiếp dạy mình hay thầy cúng ma cho nhà mình mà họ còn kính trọng những người thầy khác:

Hi-óc yết su,

Kếnh oán su.

Trí xiên săng,

Tí kếnh su.

(Học một thầy,

Kính vạn thầy.

Đến nhà thầy giáo,

Phải kính cẩn trong từ ngữ).

Đây là một quan điểm hết sức tiến bộ, phản ánh tư duy biện chứng cao. Đã làm người học trò thì không chỉ kính trọng người trực tiếp dạy mình vì đó là lẽ tất yếu, mà còn phải kính trọng những người thầy khác bởi họ dù không trực tiếp dạy ta thì họ cũng là những người đáng để ta học hỏi và nể trọng. Hơn thế, khi nói năng giao tiếp với thầy giáo, học trò cần vừa phải kính, vừa phải cẩn trọng từ ngữ. Đó cũng là cái đạo thầy trò, làm thế nào để trò kính mà không xa, gần mà không bỡn.

Hiếu thảo, kính trọng mẹ cha

Ki - áo nì tốc su

Hiếm kéng zề ni - àng

(Dạy mày đọc sách,

Cần kính trọng cha mẹ).

Điều đầu tiên của việc đọc sách là phải biết kính trọng mẹ cha, và kẻ làm con thì không được cãi lời cha mẹ:

Zề ni - àng xuất kí

Bú lón cao xênh

Nàm trồng phú mụ

Nì trồng zề ni - àng

(Bố mẹ nói một câu

Chớ có nói to hơn

Con trai phải theo tổ tiên

Con gái phải theo cha mẹ)

Người Dao rất kị việc con cái cãi lại cha mẹ, hoặc gia đình có sự bất hòa. Nếu ai đã từng sống trong bản Dao thì thấy rất rõ nét văn hóa đặc trưng này. Gia đình là một sự thống nhất cao về ý kiến, tư tưởng. Trong gia đình con cái luôn một mực nghe theo cha mẹ. Đồng thời họ cũng có thái độ tôn trọng với ý kiến của trẻ em. Tuy điều này không được ghi trong sách cổ nhưng trong nhà nếu muốn bán con vật gì, muốn gặp ai thì trước hết phải hỏi ý kiến của con trẻ. Đây cũng là một đặc điểm văn hóa phổ biến của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Dao nói riêng. Nhiệm vụ của người con trai Dao là phải nối được truyền thống của tổ tiên, vì vậy nên mới nói “con trai phải theo tổ tiên”; còn với con gái nghe lời cha mẹ đồng nghĩa với việc nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ, đặc biệt là trong chuyện gả chồng. Cũng như nhiều dân tộc khác, trong nhà con cái hòa thuận, biết nghe theo lời người lớn, trọng người già thì gia đình đó được coi là gia đình có nề nếp, được làng bản, thôn xóm kính trọng.

Chăm chỉ, cần cù, kiên nhẫn trong công việc

Người Dao sống bằng nghề chính là trồng cây nông nghiệp, trang phục của họ đều do họ tự tay thêu dệt. Vì thế mà người Dao coi chăm chỉ, cần cù là một đức tính quý báu. Nếu không chăm chỉ thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống:

Yều thiền bú cang

Trang ùa ù cốc

(Có ruộng mà không cày

Trong kho sẽ không có thóc).

Hay:

Ki-ớn zờn chào phủ

Xiên pao àn ỳ

Ki-ớn zờn trì phụ

Hi-óc tắc xiên sang.

(Thấy người sớm lấy vợ

Sớm phải bỏ trí khôn

Thấy người muộn lấy vợ

Học được làm thầy giáo).

Các bậc tiền nhân dạy con cháu của mình muốn thành đạt trước hết phải có trí, đừng vì ham lấy vợ mà hỏng cả sự nghiệp. Và thực tế là:

Zờn làn nì ki-ờm

Zờn ki-ờn nì ngái

Zờn thù thông chiêu

Pú thù làn tó.

(Người lười bị con gái chê

Người chăm được con gái thích

Người ta thích kẻ hiểu biết

Không thích kẻ lười biếng).

Lên án những thói hư tật xấu

Ở bất kì xã hội nào thì thói hư tật xấu cũng bị lên án nhưng với cách diễn đạt thật dung dị, người Dao xưa đã cảnh tỉnh con cháu mình:

Hềnh i-óc zờn chang

Zờn pá xiết ỳ

Bú pá ki-àng zờn

Thao zờn zé hềnh

Mòn nhất sù míng

Pí zờn chi-óc tắc

Thiên bú ếnh nì.

Tham hoa lón nì

Lón kiều pại xêm

Tham chiều pại uốt

Chuỗi liều lón xi-ênh

Tiên oàng má zờn

Zờn trang cuô xí

Múc xín sù ỳ

Láo lài sú tri

(Làm việc ác sẽ bị ghét bỏ.

Người ta chỉ sợ lời nói phải,

Không sợ những kẻ ngang ngược.

Đêm đi ăn trộm của người,

Có ngày sẽ bị chết.

Để người ta bắt được,

Trời cũng không giúp mày.

Ham sắc đẹp thì làm loạn người con gái khác,

Loạn lâu thì hại đến bản thân.

Ham rượu thì hỏng lập trường,

Say rồi thì nói nhàm.

Tiếng to mắng chửi người khác,

Người ta ghét cả đời.

Không tin vào lời trong sách,

Già rồi mới tự nghĩ về mình).

Thường thì khi điều xấu bị phanh phui người ta hay dựa vào các yếu tố thần linh để cầu sự may mắn. Vì thế cha ông của dân tộc Dao đã khẳng định rõ: nếu ăn trộm thì ắt có ngày sẽ bị người ta bắt được. Và khi đó không nên mong cầu ở trời vì trời cũng không giúp được. Sắc đẹp và rượu cũng là những thứ phải ngăn ngừa bởi đó là những yếu tố làm loạn tâm tính của con người. Ai mà không chịu nghe những lời dạy bảo ở trong sách thì khi về già mới tự ngồi nghĩ về bản thân thì mọi sự đã muộn. Và đưa ra lời cảnh báo:

Zờn sang múc lón

Y thi-òng câu tri

(Người sống đừng có loạn

Không thì giống như chó lợn)

3. Kho sách cổ của người Dao ở Bảo tàng tỉnh Sơn La tuy chỉ có hơn 90 đầu sách nhưng nó chứa đựng một giá trị văn hoá lớn, một kho di sản về tín ngưỡng, văn hoá truyền thống cũng như quan điểm giáo dục của người Dao xưa. Vì thế, bảo tồn, lưu giữ và khai thác, tiến tới phát huy vốn văn hoá này là việc làm cực kì cần thiết và cấp bách. Bản thân tác giả bài viết không phải là người dân tộc Dao nhưng do công tác trên địa bàn có cư dân Dao sinh sống nên đã tìm hiểu và thấy có hứng thú với kho sách còn chứa nhiều bí ẩn này. Song điều đáng trăn trở là những người Dao biết chữ Dao cổ và thông thạo tiếng Việt để chuyển tải những văn bản này ra đông đảo giới nghiên cứu được biết thì hiện nay chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Trong khi đó người có trình độ mà đam mê vốn văn hoá cổ này lại không có nhiều và còn ở giai đoạn khai mở. Bài viết này ngõ hầu hi vọng mở ra một hướng tìm hiểu mới về di sản Hán Nôm trên mảnh đất đồi núi phía Tây Bắc của tổ quốc Việt Nam./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.877-888)

Phạm Thị Thảo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm