VI | EN
8. Thêm một niên đại mới cho chữ ĐỀ (TBHNH 2001)
Thông báo Hán Nôm học 2001

THÊM MỘT NIÊN ĐẠI MỚI CHO CHỮ ĐỀ

HOÀNG HỒNG CẨM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong chuyến đi công tác về xứ Nghệ, chúng tôi đã may mắn có được tấm bia mang tên: Nguyễn môn huân nghiệp. Bia nằm bên trái ngôi đền làng Vạn Xuân, phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (Xưa là làng Vạn Lộc, huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang).

Điều đầu tiên chúng ta cần ghi nhận rằng: đây là một tấm bia khá đẹp vì được bảo vệ cẩn thận. Bia gồm bốn mặt còn đầy đủ chữ và hoa văn. Cho dù trên bia còn in dấu ấn của thời gian, nhưng các nét chữ, hoa văn, nét chạm khắc hình các vị hậu đều còn khá đầy đủ và sắc sảo, thể hiện phần nào đời sống bến sông cửa lạch cùng nét tài hoa khoáng đạt của người thợ khắc. Nội dung bia cùng tương tự với tất cả các văn bản bia là ghi sự tích, kể công lao và lý do việc lập nên văn bia về vị tướng quân. Với niên đại khá sớm: năm đầu đời Lê Hy Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh (1676), tấm bia đã thể hiện được ý thức bảo tồn vốn cổ của người dân địa phương cùng sức sống bền vững của thể loại văn bản này. Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn đề cập đến trong bài viết này là việc khắc một chữ theo kiểu kỵ huý. Đó là tự dạng của chữ Đề được khắc trong bia.

Theo công trình nghiên cứu rất dày công của Phó giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thọ (Nghiên cứu chữ huý trên các văn bản Hán Nôm) chúng ta đã được biết: chữ Đề đã là chữ kiêng huý, nhưng không dùng riêng mà dùng riêng cho tên của một ông Vua hay một bà Chúa nào đó mà chỉ là kiêng huý cho một chức quan: chức quan Đề Điệu. Việc kiêng huý này nhằm đề cao vai trò của chức quan cao nhất trong các kỳ thi (trên cả bậc quan Tế Tửu).

Chúng ta cũng nhất trí với GS. TS rằng: Chữ Đề đã được dùng nhiều trong các văn bản đời Lê, đặc biệt là trong khoảng thời kỳ Lê trung hưng, và phần nhiều là ở các thác bản văn bia.

Cũng theo công trình Nghiên cứu chữ huý, chúng ta có thể đưa ra các mốc chính của những lần chữ Đề được xuất hiện trên số bia đáng kể mà ông đã khảo sát như sau:

1*. Niên đại sớm nhất cho chữ Đề là: đời vua Lê Thế Tông niên hiệu Quang Hưng thứ 14 (1591) trên tấm bia chữa cầu Đức Di thuộc làng Kim Liên, Nam Đàn (ký hiệu của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm N 2391) trong câu: bồ đề phát tâm.

2*. Sau đó, vào đời vua Lê Kính Tông, niên hiệu Thận Đức năm thứ nhất (1600) trong tấm bia Trùng tu Phúc Quang tự bi của xã Phúc Điền, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An trong câu: Đề thụ đổ quang (ký hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm N 8222).

3*. Lần tiếp theo, vào năm Hoằng Định thứ 5 (1605) đời vua Lê Kính Tông, trong tấm bia Long linh tự bi ở xã Lan Linh, huyện Lang Tài, Bắc Ninh, trong câu Bồ đề chi thụ (ký hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm N 6308).

4*. Tiếp đến đời vua Lê Chân Tông, niên hiệu Phúc Thái năm thứ hai (1644), trong tấm bia Tu tạo Hoa kiều bi trong câu: Đề lại Nguyễn Thế Khôi (ký hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm N 11422).

5*. Đến đời vua Lê Thuần Tông niên hiệu Thịnh Đức năm thứ nhất (1653) trong câu: Thận lộc đại phu Đề hình giám sát ngự sử thuỵ khuê nam (ký hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm N 8343).

6*. Đến niên hiệu Dương Hoà thứ ba (vẫn đời vua Lê Thần Tông 1827) trong câu: Đinh Sửu khoa tiến sĩ Đề danh bi ký.

7*. Trong các tấm bia ở Văn Miếu với tấm bia có niên hiệu Thịnh Đức thứ nhất (1653) trong câu: Đề điệu Thái bảo Kiên quận công Trịnh quân (ký hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm N 1314).

8*. Tấm bia có niên hiệu Vĩnh Trị thứ 5 đời vua Lê Thuần Tông (1680) đã có cả Đề Điệu. Nhưng ở bia này chữ Đề đã có cách viết khác: nó không phải là chữ Đề có ba hoặc bốn nét gãy mà là chữ Đề có chữ thị ghép với chữ hiệt .

Theo dõi luận án trên chúng ta có thể thấy trong đó chí ít là đã có tám lần với tám niên đại có xuất hiện chữ Đề. Riêng niên đại Vĩnh Trị chỉ có ở năm thứ năm (1680) còn như ở năm Vĩnh Trị thứ nhất (1676) thì đến nay mới có ở tấm bia Nguyễn môn huân nghiệp.

Chúng tôi đã đi sâu vào nội dung văn bản bia này và thấy: ở đây đã có hai lần chữ Đề được xuất hiện. Tuy tự dạng không hoàn toàn giống nhau nhưng thực tế chỉ là một cách viết của chữ Đề có bốn nét gãy trên cùng chữ thị và bộ thủ tài gẩy ///. Chữ thứ nhất, trong câu: Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân cấm y vệ tả hiệu điểm thông quận công gia tặng Đề đốc Nguyễn Lệnh Công Thuỵ Chân Trường Phủ quân; Chữ thứ hai trong câu: Nguyễn môn cao tộc phẩm quý quận công quyền long Đề Đốc báo quốc. Hai chữ Đề ở đây tuy nằm ở hai mặt bia một và ba nhưng đều được khắc theo kiểu có bốn nét gãy.

Như vậy, với tấm bia Nguyễn môn huân nghiệp chữ Đề đã có thêm một địa chỉ với một niên đại mới. Số lần chữ Đề xuất hiện cũng được tăng lên một lần nữa là chín. Và cũng nhờ thế chúng ta đã góp thêm phần khẳng định thêm cho ý tưởng: Đề luôn là một tiêu chí chỉ những cấp bậc cao nhất trong tất cả các ngạch quan lại mà sau này chúng ta vẫn còn được biết đến như: Đề lại, Đề đốc, Đề binh...

Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.56-59

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm