VI | EN
8. Về hai bài thơ Nôm mang phong cách hát ca trù (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

VỀ HAI BÀI THƠ NÔM

MANG PHONG CÁCH HÁT CA TRÙ

HOÀNG THỊ HỒNG CẨM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Vừa qua trong dịp đi công tác điều tra ở địa phương, chúng tôi đã may mắn có được hai bài thơ Nôm. Một bài là Trúc ước hát lúc vào đám của đền Bưu, và một bài là lời Mừng thọ (cũng ở địa bàn trên). Sau khi phiên dịch xong chúng tôi thấy bài thơ rất nhịp nhàng hầu như có nhạc điệu, có cách ngắt câu, nhả ý, gần với thể thức hát ca trù. Văn bản này là nằm trong bản thần tích của đền Bưu (ở xã Quỳnh Vinh, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) được sao chép trong tập Thần tích gồm một số thần tích của các vị thần trong tỉnh nay lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu toàn bộ hai bài để bạn đọc cùng tham khảo.

1.BẢN THÔN CA ĐÌNH ƯỚC THÚC

(Bài Thúc ước hát ở đình thôn nhà)

NHẬP TỊCH TÀNG CÂU CÂU ƯỚC THÚC SỰ.

(Bài Thúc ước hát lúc làm lễ nhập tịch tàng câu(1))

Mừng nay:

Bể lắng tăm kình,

Rừng tan lối thỏ.

Sông vàng leo lẻo ngưng trong,

Đuốc ngọc làu làu dãi tỏ.

(Ơn) Vua trên ra tài trị nước, đất sáng trời trong,

Nhờ câu Thần xuống phúc hộ dân, người nhiều của có.

Hội thanh bình muôn cõi xoang ca,

Trường văn vật mấy lời răn tỏ!

Áng ta nay:

Tiếng nức trời Nam,

Danh lừng cõi thọ.

Sơn xuyên sẵn cảnh hồ thiên,

Phong khí được miền trung thổ.

Mạch linh sơn dẫn lại, ngọc chất dồn dồn;

Nước Cờn Hải chầu về, bạc dâng thác thác(2).

Cờ Trạng nguyên bày trước minh đường;

Trướng Văn thủy giăng sau huyền vũ.

Vừng hồng chiếu mặt non quải bảng! nọ cánh thanh long,

Vẻ mây thêu sắc đá Ngự bình, kìa tay bạch hổ.

Giang sơn mỗi vẻ mỗi màu,

Phong cảnh càng nhìn càng rõ.

Chốn Thánh vũ cung tường phú mỹ, trải ngàn thu thọ vĩnh tư văn;

Nơi thần từ Tiết Ngại anh linh, truyền vạn cổ công phân cao vũ.

Nền phúc Đình cá dẫy hoa tươi,

Chùa cổ Phạm chim gù trúc múa(3).

Xui khách ẩn ngàn mai sớm dạo, đòi thuở trăng soi cổ bến.

Cảnh thanh cấu khí thiêng liêng,

Đất tốt sinh người hiền ngộ.

Văn những đấng trải ngôi chầu trợ, sự nghiệp vẻ vang;

Võ nhiều tài đáng giá can thành, cung tên nắng nỏ.

Dõi đường phiệt duyệt, con nối nghiệp cha,

Bốn bậc sinh dân đâu vui thú đó.

Sĩ nay:

Đạo hiếu hiền xưa,

Cùng theo lối cũ.

Trước sân học lễ học thi,

Dưới bút câu văn câu phú.

Trong châu quận nổi danh chói lói, Quế nức non Yên;

Chốn khoa trường đề bảng rành rành, Cá lên môn Vũ(4).

Nông nay:

Chức nghiệp siêng năng,

Sớm khuya hằng cổ.

Thói Đường Nghiêu giữ mực kiệm cần,

Câu u nhã quen bề cực khổ.

Xuân đến vui lòng Đông tác, đội vũ trăm xanh(5);

Thu qua nghị giữ Tây thành, lúa chu chín đỏ(6).

Công nay:

Dạ có văn hoa,

Tài ra chạm trổ.

Lòng siêng Đích Biển nào hơn,

Ngón khéo Bá Thùy khôn độ(7).

Nẻo đài gác làm rường làm cột, muôn một sửa sang;

Trên miếu đường cầm thước cầm khuôn, một tay mực mẫu.

Thương nay:

Buôn bán đủ vành,

Thực thà là của.

Đạo sinh tài dụng ít làm nhiều.

Nghề thực hóa đong đầy mặc đủ.

Chợ một tháng mười lăm phiên họp, của chất bốn phương,

Sông đôi bên, năm bảy thuyền buôn, lời thông trăm hộ.

An nghiệp thường dân thực là thuần,

Tùy thích bấy người đều được thú.

Cầu ngư phụ con thuyền Xích Bích, long lanh mặt nước trăng in(8);

Gánh tiều phu quảy củi Thanh sơn, thủng thỉnh đầu non bóng tỏ(9).

Nội lục kẻ cày người sớm họp, quen với yên hà;

Vườn đào đoàn mục thụ trưa vầy, vui cùng hoa cỏ.

Kể đà lắm thú phong lưu,

Thêm lại nhiều người trung hậu.

Đầu đội Quân thân hai chữ, đạo tôi tớ đạo con ngài(10).

Lòng thì cung kính một bề, bậc đàn anh, bậc bác chú,

Tiệc lễ văn rành đã chỉnh tề,

Kẻ ca kỹ phải thêm dặn nhủ.

Đàn gảy cho trong bắt cho sát, thính tha(11) ngọc nhỏ bàn châu,

Hát cho ngân óng, tán cho tròn, trong trẻo cành đưa quạt gió.

Đào kép đừng những giọng xăm pha(12),

Ai nấy chớ nhiều lời to nhỏ.

Khi đứng khi ngồi phải phép, thời nghiêm trang lớp trước lớp sau,

Dẫu vui dẫu tẻ mặc dầu, đừng bàn bạc thế này thế nọ.

Vậy mới ra trường Văn nhã, khúc hát Nam phong,

Vậy mới ra đất Nho thư, thói miền Đông lỗ(13).

Nghiêm thay trường chúc Thánh, ngàn thu sao thọ sáng soi,

Kính bày lễ sự thần, mấy khúc ca quỳnh nhặt tấu.

Miễn đều lòng giữ kính cung.

Ngõ được phúc thêm thuần hỗ.

Nay ước!

Hoàng hiệu... tuế thế...

(Viết thúc ước cho cùng biết)

2.THỌ VĂN NGÔN

(Văn chúc thọ)

Mừng nay:

Xuân khí viêm hòa,

Thọ tinh dãi tỏ(14).

Vũ trụ tới tuần hưởng thái, Quốc tộ điện bàn.

Càn khôn gặp hội thăng bình, nhân an án đổ.

Áng ta nay:

Cảnh chiếm Hoan Châu(15), danh truyền cõi thọ.

Càn mạch bởi Kê sơn dẫn lại, được chữ trường sinh;

Tốn thủy từ Cờn Hải châu về, thêm mày linh tú.

Đất đã hợp vựng Hoàng Mai,

Trời ắt sinh người bạch tẩu(16).

Hạ lão, Trung lão, Thượng lão, hội Giao Trì 17) áo mũ đầy hàng;

Lục tuần, thất tuần, bát tuần gác Lạc Thổ(18) trước sau nối dấu.

Mừng gặp xuân vương(19) nguyệt,

Chữ Kỳ My còn nhớ Thi Hàm.

Kính dâng thọ tửu ba tuần, tiệc yến lão xin theo lệ cổ.

Tấm lòng thành dám nói văn hoa,

Tuân hương lệ giữ bề chất tố.

Trước đào tiệc xênh xoang đàn hát, tính tình tinh lựa nhịp Bá Nha(20);

Trên quỳnh diên tắc thảy trống chầu, tung tùng cắc vui miền Đông Lỗ.

Họa được trúc thêm hạ ốc, Ngải kỳ mao điệt lại thêm nhiều.

May ra phúc hiệp cơ trù, phú quý an ninh đều đủ có.

Đội đức Thần linh vạn cổ,

Trên già nua rượu Cúc thảnh thơi,

Gặp tuần Thánh thọ thiên xuân,

Trong hương đảng Đình Mai chúc hỗ.

Cẩn chúc!

Hoàng hiệu (niên tuế... nguyệt... nhật...)

Chú thích:

(1)Tàng câu: là nghi thức mở thẻ thường thấy trong các nghi thức tế lễ ở các đình đền xưa, trong đó có nghi thức tế lễ nhập tịch khi mở hội làng còn gọi là “vào đám”.

(2)Núi Linh Sơn nằm trên cửa Cờn Hải thuộc địa phận xã Quỳnh Phương huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Ở địa phương này có đền thờ Tứ vị thánh nương.

(3)Ở đây muốn chỉ sự trù phú của làng ven biển: vừa có đình phúc phú cho nhiều cá tôm hoa cỏ; lại có chùa xưa tĩnh mịch huyên hòa có chim gù trúc múa.

(4)Chỉ việc đỗ đạt cao nhiều: Môn vũ tức Vũ Môn. Vốn là tên một trái núi ở thường du sông Trường Giang thuộc tỉnh Triết Giang (Trung Quốc), dưới chân núi có vực rất sâu lại có ba bậc, hằng năm đến mùa thu nước lụt lớn cá đua nhau tới đó nhảy thi, con nào vượt qua được thì hóa rồng; và những ngày ấy thường có mưa rào. Huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh cũng có vực sâu tam cấp ở cạnh chân núi như “Vũ Môn tam cấp” trong sách Trung Quốc. Điển này sau người ta dùng để chỉ việc học trò đi thi. Ca dao có câu:

Mồng bốn cá đi ăn thề,

Mồng bảy cá về cá vượt Vũ Môn.

(5)Chỉ thành Đông Đô tức thành Thăng Long.

(6)Chỉ thành Tây Đô ở Tây Giao do Hồ Quý Ly cho xây.

(7)Chưa tìm ra điển. Trong mạch câu thơ đoán đây là hai người nổi tiếng về sự chăm chỉ và khéo léo trong nghề chạm trổ đồ mộc.

(8)Xích Bích là nơi con sông nằm bên phải núi Xích Bích ở tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) xưa Khổng Minh và Chu Du dùng hỏa công đốt chiến thuyền của Tào Tháo. Về sau người ta dùng con thuyền Xích Bích để nói về vẻ hùng vĩ oai phong của con thuyền lướt sóng cả. Đây vừa nói về con thuyền nhưng cũng muốn nói tác giả là người thông kim bác cổ.

(9)Ở đây có lẽ dùng để chỉnh câu cho đối, chỉ đơn thuần là núi xanh: kẻ tiểu phu cũng thong dong với cuộc sống hanh nhàn.

(10)Từ cổ thành phương ngữ vùng Nghệ An - Hà Tĩnh: người. Đây là Đạo con người.

(11)Có lẽ là một âm cổ trong phương ngữ chúng tôi cho là ý chỉ thiết tha, vì thấy khá hợp trong mạch thơ.

(12)Tức là giọng chê bai dè bỉu.

(13)Chung chỉ đất học hành đỗ đạt.

(14)Viêm hòa: ấm áp, điều hòa; Thọ Tinh: ngôi sao chủ về tuổi thọ.

(15)Châu Hoan: tức Nghệ An - Hà Tĩnh.

(16)Bạch tẩu: chỉ người già tóc bạc, cũng ý là vùng đất phúc mới có nhiều người sống thọ.

(17)Dao trì: là chốn tiên cảnh nhàn nhã.

(18)Một tuần là chỉ 10 năm. Lục tuần là chỉ 60, thất tuần là 70, bát tuần là 80 tuổi; đều chỉ tuổi tác của người già sống thọ.

(19)Xuân Vương: chỉ Chúa Xuân. Tháng đầu của mùa xuân. Văn bản có chú là "chính" hoặc "nhị", có nghĩa là tùy theo lúc hành lễ là thời gian nào thì ghi theo thời gian đó.

(20)Bá Nha: là tên một người chơi đàn hay nổi tiếng ở Trung Quốc thời Xuân Thu. Đây có ý nói về thú tao nhã./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.106-113

Hoàng Hồng Cẩm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm