80. Văn bản Chí Am Đông Khê thi tập của Nguyễn Văn Lý (TBHNH 2012)
VĂN BẢN CHÍ AM ĐÔNG KHÊ THI TẬP
TRẦN THỊ BĂNG THANH
Viện Văn học
Trong Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có một đầu sách mang tên Chí Am Đông Khê thi tập, ký hiệu A.391. Trang 1 của sách được ghi rõ “Đông Tác Nguyễn Văn Lý soạn, Giáo thụ phủ Tuy An Phan Hy Hiến(1) tiếm bình”, nghĩa là: “Nguyễn Văn Lý, người Đông Tác soạn; Giáo thụ phủ Tuy An Phan Hy Hiến lạm bình”. Trang cuối cùng của sách ghi “Chí Am Đông Khê thi tập chung”, nghĩa là: “Thi tập Chí Am Đông Khê kết thúc”.
Tập thơ gồm 291 bài (thống kê theo số bài cụ thể, nghĩa là theo số “thủ”, một đề bài có thể có nhiều “thủ”) trong đó 23 bài do người khác xướng hoặc tặng. Tám bài đầu là: Xuất sứ Phú Yên thừa nông dịch ngẫu thành 出 使 富 安承農驛偶成, Quá Hải Vân quan 過 海 雲 關, Quảng Nam đạo trung 廣 南 道 中, Quảng Ngãi đạo trung 廣義道 中, Bình Định đạo trung 平 定道中, Quá Quy Nhơn cố thành 過歸 仁 故 城, Đồ trung ngẫu đắc 途中偶 得, Túc Tư Nghĩa phủ thư tặng Thái thú Đặng Dụng Phủ 宿思 義 府書 贈 太 守 鄧 用 甫. Trong 8 bài đó, các địa danh đều nằm trên dọc đường từ Kinh đô Huế đến Phú Yên. Từ bài thứ 9 cho đến hết tập, gồm 260 bài, đều được làm ở Trung Quốc, có đề vịnh, thuật hoài, cảm hứng và nhiều bài tặng đáp. Nhiều học giả căn cứ vào tập thơ này đã đi đến kết luận Nguyễn Văn Lý có đi sứ nhà Thanh, hành trình bắt đầu từ Phú Yên, tập thơ được làm trong cuộc đi sứ Thanh lần này. Tuy nhiên trong Tự truyện và cả trong Đại Nam thực lục đều không thấy ghi việc Nguyễn Văn Lý đi sứ.
Các học giả theo kết luận Nguyễn Văn Lý có đi sứ cho rằng có thể vì cụ Nghè không giữ trách nhiệm quan trọng trong đoàn, chỉ làm Thư ký, như một kiểu đi “hiệu lực” nên sử không ghi và tác giả cũng không muốn ghi(2). Đúng là trong văn học đã có những trường hợp như thế. Chẳng hạn Ngô Thì Trí từng được anh là Ngô Thì Nhậm đưa đi theo phái đoàn sang sứ nhà Thanh (năm 1792) để giúp việc giấy tờ, Ngô Thì Lữ được chú là Ngô Thì Hương đưa đi theo trong đoàn đi sứ năm 1814 cũng để giúp việc ghi chép và sự vụ sinh hoạt. Trường hợp Nguyễn Văn Lý cũng có thể hiểu như thế. Ngoài ra, nếu căn cứ vào kết câu hình thức tập thơ (lời ghi chú ở trang đầu và ở trang cuối) thì kết luận Chí Am Đông Khê thi tập là tác phẩm của Nguyễn Văn Lý cũng hợp lôgich.
Tuy nhiên khi đọc kỹ Chí Am Đông Khê thi tập, chúng tôi lại thấy có những điều nghi vấn cần làm rõ.
1. Thời gian sáng tác tập thơ, cũng là thời gian phái bộ đi sứ
Đọc toàn bộ tập thơ, có cảm giác như sách được tách làm 2 phần mà sự gắn kết không rõ nét, nó như được ghép lại từ nhiều văn bản khác nhau. Thông thường thì các tập thơ đi sứ bao giờ cũng có những bài làm trong nước, từ lúc ra đi, cho đến khi “xuất quan”; sau đó mới đến những bài làm trên đất bạn. Tập thơ này có vẻ cũng như thế, nhưng 8 bài thơ làm trong nước lại được sắp xếp theo thứ tự “đi vào” (từ Huế đi vào Phú Xuân) mà không phải “đi ra” (từ Phú Xuân đi ra), cũng không có những bài thơ từ Huế đến Mục Nam Quan, tức là chặng đường sứ đoàn còn ở trong nước, rồi “xuất quan”. Vì vậy chúng tôi nghĩ đầu tiên phải lý giải chỗ khúc mắc này.
a. Về 8 bài đầu tập (tạm gọi là Phần I): Xuất sứ Phú Yên thừa nông dịch ngẫu thành,..., Túc Tư Nghĩa phủ, tặng Thái thú Đặng Dụng phủ. Tám bài này đã được chép đủ và đúng thứ tự trong phần đầu quyển 2, bản Đông Khê thi tập lưu giữ của gia đình. Bản A.2439 thì chép liền từ bài Xuất sứ Phú Yên... đến bài Quá Quy nhơn cố thành; Ba văn bản trên (Chí Am Đông Khê, Đông Khê thi tập A.2439 và Bản lưu giữ ở gia đình) đều ghi chú bài Xuất sứ Phú Yên... làm năm Tân Sửu, tức 1841; bản A.1873 cũng chép liền 4 bài đầu ở đầu quyển 2, nhưng đầu đề bài Xuất sứ Phú Yên... đã ghi rõ trường hợp sáng tác bài thơ: 紹 治 元 年 補富 安按 察 使 承農驛次偶成Thiệu Trị nguyên niên, bổ Phú Yên Án sát sứ, thừa nông dịch thứ ngẫu thành (nghĩa là “Thiệu Trị năm đầu, tức 1841, bổ làm Án sát sứ Phú Yên, nhân nghỉ ở trạm canh nông, ngẫu nhiên làm), bài Quảng Ngãi đạo trung 廣義 道 中chép vào giai đoạn sáng tác sau 1846. Tám bài thơ này, như trên đã nói, đều làm theo hành trình từ Huế vào Phú Yên mà không phải từ Phú Yên đi ra (3). Trong 8 bài (ở Chí Am Đông Khê...) có một số lời chú thích về địa danh và 2 lời bình của Phan Hy Hiến, ví như ở hai câu đầu bài Quá Hải Vân quan, bình: “起 聯 括 尽 大 意 khởi liên quát tận đại ý” (nghĩa là: liên đầu - Hai câu đầu - bao quát hết ý toàn bài); bài Đồ trung ngẫu đắc, sau câu thứ tư, bình “自 字甚 得法tự tự thậm đắc pháp” (nghĩa là: tự mỗi chữ đã rất có phép tắc). Phan Hy Hiến là người đã viết bài Bạt cho Đông Khê thi tập năm 1842, như vậy đây là một chứng cứ chắc chắn 8 bài thơ của Phần I Chí Am có xuất xứ từ một tập thơ của Nguyễn Văn Lý (có thể đó chính là Chí Am Đông Khê thi tập). Nhưng trong 8 bài thơ đó có 2 bài được giải mã khác nhau, để minh chứng cho việc Nguyễn Văn Lý có đi sứ hay không. Dưới đây là cách lý giải của chúng tôi.
Thứ nhất về bài Xuất sứ Phú Yên... mà Bản A ghi rõ Thiệu Trị nguyên niên bổ Phú Yên Án sát sứ, thừa nông dịch thứ ngẫu thành(Năm Thiệu Trị thứ nhất bổ chức Án sát sứ Phú Yên, nghỉ lại ở trạm coi việc canh nông, ngẫu nhiên thành thơ). Nếu căn cứ vào bài thơ này thì Nguyễn Văn Lý phải đi sứ năm 1841). Nguyên văn bài thơ như sau:
乾象龍飛見大人
晋侯錫馬擁山雲
江山相待還如此
梅柳無情漫自云
路出京師春已半
天遙海嶺勢應分
世途奔走人衰病
歸雁天邊見數群
Dịch nghĩa:
Tượng của quẻ Càn, rồng bay, lợi được thấy bậc đại nhân,
Bề tôi có tài như lời quẻ Tấn được thưởng ngựa, mây núi
quần tụ.
Non sông đợi nhau rốt cục là như thế,
Mai liễu vô tình cứ tự tươi tốt miên man.
Đường ra khỏi kinh đô, xuân đã qua một nửa,
Trời xa và non bể thế đất phân chia.
Đường đời rong ruổi, người suy bệnh,
Thấy mấy đàn nhạn bay về bên trời.
Dịch thơ:
Càn tượng rồng bay gặp đại nhân,
Núi mây quần tụ, ngựa vua ban.
Non sông chờ đợi là như thế,
Mai liễu vô tình xanh miên man.
Ra khỏi kinh đô, xuân đã nửa,
Trời xa non bể, thế chia phân.
Đường đời rong ruổi, người suy bệnh,
Mất hút bên trời, nhạn mấy đàn.
Câu thơ đầu lấy ý từ hào “cửu ngũ” của quẻ Càn: “Long phi tại thiên, lợi kiến đại nhân”. Trình Di giảng: “Đây là ngôi trời, thánh nhân đã được ngôi trời, thì lợi về sự được thấy người đức lớn ở dưới, để cùng mình làm việc trong thiên hạ, thiên hạ cũng lợi về sự được thấy ông vua đức lớn.” Tóm lại câu thơ nói về việc vua lên ngôi.
Câu thơ thứ hai, trích ở lời kinh của quẻ Tấn: “Tấn, khang hầu tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp”. Trình Di giảng là: “Quẻ Tấn là thời tiến thịnh, sự sáng lớn ở trên, mà thể dưới êm thuận phụ vào, tức là tượng chư hầu vâng theo nhà vua cho nên là tước hầu yên... Xe ngựa là của ban thưởng long trọng, thân mật trong tiếp đãi (ngày tiếp 3 lần)”. Ý của quẻ nói bề tôi nhu thuận, được yêu quý, được ban thưởng long trọng, đãi đọa nhiều.
疾病衰吾鬢欲絲
南來旌節一官之
數行郵傳當童僕
前路關山自險夷
土味初來殊不耐
簡書尚畏曷堪遲
江山記定重來路
花鳥偏於二月宜
Dịch nghĩa:
Bệnh tật làm ta già yếu, tóc mai sắp bạc như tơ,
Giữ một chức quan mang cờ tiết đi về phương Nam.
Mấy hàng thư tín truyền đi là việc của kẻ đồng bộc,
Con đường quan san phía trước tự có chỗ hiểm trở, chỗ thuận lợi.
Mùi vị ở địa phương, lúc mới đến, thực không sao quen được,
Thư từ công văn còn e sợ, sao dám để chậm trễ.
Non sông đã ước định con đường trở lại,
Chim và hoa riêng hợp với cảnh tháng Hai.
Dịch thơ:
Yếu bệnh làm ta bạc mái đầu,
Mệnh vua, cờ tiết ruổi Nam mau.
Truyền thư, bưu trạm do đồng bộc,
Sông núi đường xa, xá hiểm nghèo.
Thức lạ, chưa quen, dường khó chịu,
Công văn gấp gáp, khó làm sao!
Non sông đã hẹn ngày về lại,
Chim hót hoa cười, xuân xôn xao.
Bài này thể hiện tình, cảnh và sự trên đường tác giả đi nhậm chức.
Như vậy, theo cách hiểu của chúng tôi thì Phần I của tập Chí Am, bắt đầu bằng Xuất sứ Phú Yên... là chùm thơ được làm trên đường từ Kinh đô Huế vào Phú Yên trong dịp Nguyễn Văn Lý đi nhậm chức Án sát Phú Yên, năm 1841. Và tháng 8 năm đó ông được bổ làm chức Chủ khảo trường thi Hương Gia Định. Cho nên chắc chắn ông không đi sứ trong năm này.
b. Về 260 bài còn lại (xin gọi là phần II). Phần này bao gồm toàn bộ thơ làm trên đất Trung Quốc. Các địa danh trong thơ đều liên quan đến hành trình đi sứ, các bạn thơ xướng họa tặng đáp cùng tác giả đều là người trong sứ bộ, hoặc các quan chức nhà Thanh làm nhiệm vụ đón tiếp, đưa tiễn, các quan phủ, huyện những nơi sứ đoàn đi qua, nghỉ lại hoặc lo phương tiện cho sứ đoàn đi về..., cũng có 1 bài về vị quan chức người Triều Tiên, có lẽ cũng là sứ giả. Như vậy, nếu muốn xác định phần thơ này trong Chí Am cũng là của Nguyễn Văn Lý thì một việc rất quan trọng là phải xác định cơ cấu, thời gian của sứ đoàn và chứng minh khả năng tham gia của ông vào sứ đoàn. Rất may tập thơ cho biết vị Chánh sứ là Phan Hàm Phủ, Phan Sài Phong, có tới 5 bài xướng họa, tặng đáp nhắc đến tên vị Chánh sứ: 又 前 題 知 恩 部 正 使 潘涵 甫Hựu tiền đề Tri ân bộ Chánh sứ Phan Hàm Phủ (nghĩa là: lại bài cùng đầu đề trên của Chánh sứ sứ bộ sang cảm ơn {nhà Thanh} Phan Hàm Phủ. Bài này tức là bài Quá quan, cũng được chép ở Nhân trình tùy bút của Phan Huy Vịnh);…次 韻酬 恩 部 使 君 潘 柴 峰Thứ vận thù Ân bộ sứ quân Phan Sài Phong (nghĩa là: Họa nguyên vần đáp Chánh sứ sứ bộ đi cảm ơn Phan Sài Phong). Biết rằng Hàm Phủ và Sài Phong là tên tự và tên hiệu của Phan Huy Vịnh (1800-1870), vì thế có thể kết luận Chánh sứ phái bộ có nhiệm vụ ngoại giao cảm ơn (Ân bộ sứ) là Phan Huy Vịnh và tác giả Phần II của tập Chí Am cùng đi với sứ bộ này. Cũng rất may trong tác phẩm của Phan Huy Vịnh có 2 tài liệu cho biết rất rõ về cuộc đi sứ đó.
1. Bài Chế gồm 7 chương úy lạo và thông báo việc tặng kim khánh cho mỗi người trong đoàn sứ, Tự Đức viết vào năm thứ 8 (1855), khi sứ bộ về nước. Chương I ghi rõ tên tuổi các vị của hai đoàn sứ cùng đi như sau:
“Bọn sứ thần các ngươi Phan Huy Vịnh, Phạm Chi Hương, Lưu Lượng, Nguyễn Duy, Vũ Văn Tuấn đãvề nước vào bái mệnh. Chim bằng chín vạn dặm biển Nam…” (Chương 1)(4).
2. Lời chú trong bài 聞命Văn mệnh (Vâng mệnh vua) của Phan Huy Vịnh trong tập Sài Phong nhân trình tùy bút (Tùy bút trong chuyến đi sứ của Sài Phong):
“Năm Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức (1849) thể lệ bang giao được thỏa thuận, theo lệ sai sứ sang đáp tạ. Ta phụng mệnh sung chức Chánh sứ, Quang lộc tự khanh họ Trần, Thị độc Học sĩ họ Lê được sung chức Giáp, Ất phó sứ. Được quốc thư do Khâm sứ chuyển đạt, năm ấy mùa đông, sứ bộ định đến Hà Nội chờ. Nhưng mùa xuân năm Canh Tuất (1850) lại tiếp công văn của Quảng Tây hoãn lại để chờ hợp với đoàn cống sứ theo lệ vào năm Nhâm Tý (1852), cùng sang. Ta vẫn được sung làm Chánh sứ, nhưng Phó sứ có thay đổi, giao cho Hồng lô tự khanh họ Lưu và Thị độc họ Vũ. Đoàn cống sứ thì gồm Chánh sứ Lễ bộ Tả Thị lang họ Phạm, Thị độc Học sĩ họ Nguyễn, Thị giảng Học sĩ họ Nguyễn (là hai Phó sứ). Hai đoàn cùng đi.”
Cũng theo một lời chú trong bài khai bút Phan Huy Vịnh làm trong ngày Nguyên đán ở Hà Nội (癸 丑 元 旦 試 筆Quý sửu Nguyên đán thí bút, nghĩa là: Thử bút ngày Nguyên đán năm Quý Sửu, 1853) và bài cảm hứng làm ở Lạng Sơn (諒 山 行 次Lạng Sơn hành thứ, nghĩa là: nơi nghỉ lại trên đường đi ở Lạng Sơn) thì ngày 3 tháng Giêng năm Quý Sửu khởi hành từ Hà Nội, ngày 7 đến Lạng Sơn, nghỉ ngơi thăm cảnh và ngày 10, sứ bộ đến cửa Nam Quan, hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Tây làm lễ tiến và đón sứ. Trong lần đi này, Phan Huy Vịnh có tập Nhân trình tùy bút 駰程隨筆, tên sách ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn ghi là Sài Phong nhân trình tùy bút 柴峰駰程隨筆, ký hiệu A.2689, Phạm Chi Hương có My Xuyên sứ trình thi tập 郿川使程詩集, ký hiệu A.251. My Xuyên là tên hiệu của Phạm Chi Hương, Chánh sứ đoàn cống sứ. Như vậy hai đoàn sứ cùng đi từ tháng Giêng năm Quý Sửu (1853) và mãi đến năm Tự Đức thứ 8 (1855) mới về.
Từ những tài liệu trên có thể đi đến một kết luận chắc chắn là Phần II tập thơ Chí Am đã được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1853 đến 1855. Và nếu Nguyễn Văn Lý là tác giả phần thơ này, thì ông sẽ phải là thành viên của một trong hai sứ bộ Phan Huy Vịnh hoặc Phạm Chi Hương.
Như hai tài liệu trên (Bài của Tự Đức và lời chú trong bài Văn mệnh của Phan Huy Vịnh) cho biết, sứ bộ Phạm Chi Hương có 2 Phó sứ họ Nguyễn, một vị là Nguyễn Duy, điều này cũng hé ra một tia hy vọng, có thể vị còn lại, chính là Nguyễn Văn Lý.
Tuy nhiên, những tư liệu từ dòng họ Nguyễn Đông Tác lại không minh chứng điều ấy. Trước hết, Tự truyện của Nguyễn Văn Lý đã cho biết khá rõ những hoạt động của ông trong khoảng thời gian từ 1853 đến 1856 ở Bắc kỳ. Tự truyện có đoạn viết:
“Năm 59 tuổi, Quý Sửu (1853) vẫn ở nhà dạy học, dạy con.
Năm 60 tuổi, Giáp Dần (1854), tháng 11 vợ thứ sinh con gái là Vi. Hai năm Giáp Dần, Ất Mão (1855),.. Hai năm Bính Thìn, Đinh Tị (1856,1857) liên tiếp bị vỡ đê, dân đói to. Nhà ta nghèo, họ hàng quẫn bách cũng không có cách nào giúp đỡ, lòng càng ngổn ngang không thôi. Binh lửa, đói kém, ở trong làng mà vẫn buồn bã.
Năm 62 tuổi, Bính Thìn, tháng 2 ta tới làng Sơn Bình, huyện Lập Thạch, Sơn Tây mở quán dạy học”.
Trong Đông Khê thi tập, bản A.2439 cũng có một chùm bài trực tiếp liên quan đến chuyện Phan Huy Vịnh và Phạm Chi Hương đi sứ, đó là các bài thơ tiễn:吏 侍 潘 柴 峰 如 燕 使 書 餞 Lại Thị Phan Sài Phong như Yên sứ, thư tiễn (Thị lang Bộ Lại Phan Sài Phong đi sứ Yên Kinh, thư tiễn), 禮侍范 郿 山 如 燕 貢 書 餞 Lễ Thị Phạm My Sơn (Xuyên) Như Yên cống, thư tiễn (Thị lang Bộ Lễ Phạm My Sơn đi sứ Yên Kinh cống phương vật, thư tiễn), đặc biệt là bài 光 祿 寺 卿 奉 充 副 使 乙 部 阮 靜 山 定 甫 書 餞Quang lộc tự khanh Phó sứ Ất bộ Nguyễn Tĩnh Sơn Định Phủ, thư tiễn (Nguyễn Tĩnh Sơn Định Phủ sung chức Phó sứ thứ hai sứ bộ, thư tiễn)… Trong 5 vị của hai sứ đoàn mà Phan Huy Vịnh nhắc trong lời chú bài Văn mệnh thì Nguyễn Văn Lý đã có thơ tiễn 3 vị, còn Nguyễn Định Phủ là bạn Nguyễn Văn Lý, trong Đông Khê thi tập, ông nhiều lần có thơ tặng đáp. Với sự có mặt của Nguyễn Định Phủ, khả năng Nguyễn Văn Lý là vị Phó sứ thứ hai không còn là hiện thực nữa. Đặc biệt trong bài tiễn Phạm Chi Hương có hai câu nói rất rõ Nguyễn Văn Lý một mình “nằm bệnh” tại Long Đỗ và ông bồi hồi tiễn bạn:
龍 肚 菊 深 惟 臥 病
一 番 將 送 一 徘 徊
(Long Đỗ cuối thu, mình ốm yếu,
Một phen đưa tiễn một bồi hồi).
Như vậy, những bài thơ trên đã là căn cứ chắc chắn chứng tỏ Nguyễn Văn Lý không là thành viên của hai sứ bộ này. Ngoài ra còn một vài bài khác cũng có thể củng cố thêm cho căn cứ trên, đó là khi hai sứ bộ về nước, được cho về thăm quê, lúc trở lại Kinh đô Huế có đến thăm Nguyễn Văn Lý, và ông lại làm thơ tiễn: 秋 卿柴 峰冬 卿 郿 川蒙賜 假還 鄉及 回 朝 相 訪余 適 去 山 屏 授 館 書 餞Thu khanh Sài Phong, Đông khanh Mi Xuyên mông tứ giả hoàn hương, cập hồi triều tương phỏng, dư thích khứ Sơn Bình thụ quán, thư tiễn / (Thu khanh Sài Phong, Đông khanh Mi Xuyên được cho về thăm nhà, khi trở lại triều đến thăm, vừa lúc tôi đi Sơn Bình dạy học, thư tiễn). Cuộc “đến thăm” này chắc chắn được thực hiện khoảng tháng 2 năm Bính Thìn (1856) vì như chính Nguyễn Văn Lý cho biết, ông đi Lập Thạch dạy học vào tháng 2.
Sau tất cả những cứ liệu trên chúng tôi thấy đã có thể kết luận khá thuyết phục rằng: trong các khoảng thời gian 1841, 1853-1855, Nguyễn Văn Lý không đi sứ. Cũng có ý kiến đoán Nguyễn Văn Lý đi sứ vào năm 1845, nhưng năm này Phan Huy Vịnh không đi sứ, hơn nữa Nguyễn Văn Lý cũng có những bài thơ chứng tỏ thời gian này ông đang ở Bình Định.
Do vậy các vị Phó sứ hay Thư ký họ Nguyễn trong đoàn Cống sứ My Xuyên hoặc Ân sứ Sài Phong đều không thể là Nguyễn Văn Lý (Song Đình cũng không thể là một tên hiệu khác của Nguyễn Văn Lý). Tập thơ Chí Am Đông Khê bản A. 391 chỉ có 8 bài đầu chắc chắn là của Chí Am (Nguyễn Văn Lý), phần sau là của một (hoặc nhiều) tác giả khác trong hai đoàn sứ Phan Huy Vịnh, Phạm Chi Hương và trên lý thuyết không loại trừ khả năng có cả của Chí Am, vì biết đâu những bài thơ lẫn vào văn bản chỉ một phần. Vậy nhiệm vụ của việc nghiên cứu văn bản là phải tiếp tục tìm, loại ra những bài lẫn đó để trả lại những bài đích thực cho Chí Am.
2. Vấn đề tác giả của Phần II Chí Am Đông Khê thi tập
Từ kết luận ở mục 1 (a và b), muốn xác định tác giả của 260 bài thơ Phần II của Chí Am... thế tất phải khảo sát, dò tìm, đối chiếu với các tập thơ sứ trình của My Xuyên và Sài Phong sáng tác trong cuộc đi sứ lần này (1853 - 1855).
a. Đối chiếu giữa Phần II Chí Am và My Xuyên thi tập
My Xuyên thi tập, ký hiệu A.251 gồm 150 bài, không có lời tựa, bạt, ngay sau trang bìa ghi tên tập thơ là bài thơ từ biệt vua ở điện Cần Chánh: 勤正 殿 陛 辭 叩 命聆 聖 諭 恭 記Cần Chánh điện bệ từ khấu mệnh linh thánh dụ cung ký / (Từ biệt trước bệ vua ở điện Cần Chánh, khấu đầu nghe thánh dụ, kính ghi),... cho đến bài kết thúc 抵 關 喜 賦Để quan hỷ phú, nghĩa là: về đến cửa quan mừng làm thơ). Trừ 6 bài đầu của tập này (trong đó có 3 bài làm ở trong nước), từ bài thứ 7 永 淳 早 泛Vĩnh Thuần tảo phiếm (Sáng sớm đi thuyền từ Vĩnh Thuần) cho đến bài số 150, Để quan hỷ phú đều được đưa vào Chí Am Đông Khê thi tập. Thứ tự các bài đều tuân thủ theo My Xuyên, sự sai dị giữa hai tập không đáng kể, thường gặp các trường hợp hoặc sai chữ do sơ suất, đọc nhầm, cũng có khi dụng ý sửa, hoặc chép sót, như sau bài 蒼梧 懷 古 次 韻Thương Ngô hoài cổ thứ vận chép thiếu bài 梧江 晚 眺 次 韻Ngô giang vãn diếu thứ vận; hoặc chép lẫn nội dung, như trường hợp 2 bài 題三 吾 勝 異 亭 Đề Tam Ngô thắng Dị đình và 三 梧 亭 次 韻Tam Ngô đình thứ vận. Riêng hiện tượng 6 bài đầu tập My Xuyên không được đưa vào Chí Am có thể là do người chép có chủ ý. Phải chăng muốn người đọc khó nhận ra tập thơ gốc, hoặc để tạo được sự hợp lý cho kết cấu tập thơ mới lắp ghép...?
Như vậy 137 bài thơ đầu của Phần II Chí Am (tạm gọi là Phần IIA) chính là của Phạm Chi Hương, được chép từ My Xuyên sứ trình thi tập A.251. 146 bài còn lại (sau đây xin gọi là Phần II B), vẫn còn cần xác định tác giả.
b. Những gợi ý từ Nhân trình tùy bút của Phan Huy Vịnh
Theo lời đề Tựa của viên quan “đoản tống” Trung Quốc (tiễn Sứ một đoạn đường ngắn) là Lý Xuân Tuyên, viết đầu tháng 4 năm Giáp Dần (1854), thì Nhân trình tùy bút có 180 bài, bản chép hiện có 173 bài (bao gồm cả nguyên tác các bài xướng hoặc họa). Bài đầu tiên là Văn mệnh cho biết một số chi tiết quan trọng về sứ đoàn, tiếp theo là những bài thuộc về chức trách đối ngoại, như chúc tụng, cảm ơn, tặng đáp, họa vần, lưu biệt các quan chức Trung Quốc, nhưng nhiều hơn là xướng họa nhằm sẻ chia những suy tư vui buồn với đồng sự trong hai sứ đoàn. Nhân trình tùy bút không có sự trùng khớp với Phần II B của Chí Am... như My Xuyên sứ trình thi tập đối với Phần II A, nhưng cũng có những gợi ý rất quan trọng.
Thứ nhất, những tên tuổi các quan chức nhà Thanh, như “đoản tống” Lý Xuân Tuyên, “trường tống” Chu Trai Lam, “tùy tống” Phùng San Khanh, “Phủ đài” Quảng Tây Lao Sùng Quang, “Phiên đài mới được thăng Thái thường tự khanh” họ Ngô, “Niết đài” Quảng Tây họ Hứa, xuất hiện trong các bài thơ họa hoặc tặng của Phan Huy Vịnh ở Nhân trình tùy bút đều gặp ở Phần II B của Chí Am. Ví như:贈別李短 送 寅 庵 先 生二 絕Tặng biệt Lý đoản tống Dần Am tiên sinh nhị tuyệt (Chia tay, tặng tiên sinh Lý Dần Am, người tiễn sứ đoàn một đoạn đường ngắn, 2 bài),贈 別 委 員 馮 珊 卿 留 佐 幕 府Tặng biệt ủy viên Phùng San Khanh lưu tá mạc phủ (Chia tay, tặng ủy viên tại mạc phủ Phùng San Khanh),…
Thứ hai, trong phần này của Chí Am... có một số bài của Phan Chánh sứ xướng họa hoặc gửi cho “đồng sự”, đã thấy chép trong Nhân trình tùy bút. Một đặc điểm của Nhân trình tùy bút là trong cuộc xướng họa và tặng đáp, thơ của mọi người đều được chép lại đủ. Ví dụ thơ xướng họa về cuộc chơi động ở Lạng Sơn, tác giả chép cả 3 bài họa (Phụ lục Động du thứ vận tam thủ), 1 bài của Phạm Chi Hương (Cống bộ Chánh sứ Phạm Mi Xuyên), 2 bài của 2 Phó sứ (Giáp sứ Lưu Di Khanh, Ất sứ Vũ Trạch khanh); khi qua cửa quan hai Chánh sứ cùng xướng họa, Nhân trình cũng chép cả 2 bài (Canh phục Phạm Mi Xuyên Quá quan nguyên vận và Phụ nguyên tác); trong cuộc cùng lên Ấn Sơn đình ngắm trăng, Nhân trình cũng chép đủ bài họa của Vũ Trạch Khanh, Nguyễn Đường Xuyên và 2 bài họa của My Xuyên... Trong Nhân trình… có 3 nhân vật luôn luôn xuất hiện trong các cuộc xướng họa của Phan Huy Vịnh, đó là Phạm My Xuyên, Vũ Trạch Khanh và Lưu Di Khanh. Phạm My Xuyên có nhiều thơ xướng họa tặng đáp nhất, Nhân trình... chép 15 bài, trong đó 8 bài đã “có mặt” ở Chí Am, ví như Quá quan, Động du, bài xướng họa cùng chơi ở Đạm Viên nhà Ngô Tam Tuyên... Như vậy chắc chắn 8 bài này là của Phạm My Xuyên mà My Xuyên sứ trình thi tập không chép.
Còn lại, khoảng 130 bài, chưa tìm được tập thơ gốc. Khảo sát phần thơ này, thấy tác giả (Phần II B Chí Am...) có thơ xướng họa tặng đáp với nhiều nhân vật quen thuộc hoặc đã gặp trong Nhân trình tùy bút và My Xuyên sứ trình. Trước hết là Phan Huy Vịnh, thứ hai là Vũ Trạch Hương (Khanh), những “người quen” khác là Lưu Di Khanh, Nguyễn Đường Xuyên, Nhị bồi thần Tố Trai. Hai vị Đường Xuyên và Tố Trai cùng sứ bộ của Phạm My Xuyên. Kiểm điểm lại tên các chức sắc trong hai đoàn sứ Phan Huy Vịnh và Phạm My Xuyên mà tác giả Phần II B có thơ họa đáp thì chỉ không thấy họa thơ Phạm My Xuyên. Điều đó cộng với những bài đã xác định rõ là của Phạm My Xuyên ở trên cho phép đoán định Phạm My Xuyên cũng chính là tác giả phần thơ này.
Như vậy, sau cả quá trình khảo sát, dò tìm, chúng tôi thấy có thể đưa ra kết luận khá chắc chắn rằng trong Phần II B củaChí Am Đông Khê thi tập không có thơ của Nguyễn Văn Lý. Từ đó đi đến kết luận chung là:
Thứ nhất, Nguyễn Văn Lý không đi sứ Trung Quốc trong các thời điểm 1841, 1845, 1853-1855, các thời gian khác chưa tìm được chứng cứ “xuất ngoại” của cụ Nghè Đông Tác.
Thứ hai, Bản Chí Am Đông Khê thi tập A.391 là một văn bản tạo tác cố ý hoặc có sự lầm lẫn trong khi sao chép. Chỉ có 8 bài đầu là thơ của Nguyễn Văn Lý; phần còn lại là thơ đi sứ của Phạm Chi Hương (trong đó có chép một số nguyên tác của người xướng hoặc người họa), từ bài thứ chín đến bài 145 chép từ My Xuyên sứ trình thi tập A.251; phần còn lại trừ số bài có nguồn gốc từ Nhân trình tùy bút A.2689, chưa tìm ra sách gốc. Phải chăng Phần II B Chí Am... này là phần II của My Xuyên sứ trình thi tập mà bản gốc thất lạc chăng? Đây cũng là vấn đề việc nghiên cứu văn bản nên tiếp tục truy tìm.
Thứ ba, Chí Am Đông Khê thi tập có khả năng chính là tập thơ của Nguyễn Văn Lý mà Phan Cử đã viết lời Bạt năm 1842. Tập thơcũng là một nguồn để tập hợp thành Đông Khê thi tập. Văn bản có thể đã thất lạc, A. 391 hiện nay chỉ là một bản tạo tác mới, lắp ghép thơ Phạm My Xuyên từ nhiều nguồn, không phải là một nguyên bản.
*****
Nguyễn Văn Lý có rất nhiều đóng góp trong sự nghiệp chính sự, giáo dục và văn hóa, văn học. Hàng ngàn trang sách để lại cùng tấm lòng với dân với nước, với quê hương Thăng Long và gia tộc, ông xứng đáng là một danh nhân văn hóa được đời sau mãi mãi kính trọng tôn vinh. Việc có đi sứ nhà Thanh hay không thực ra cũng không quá quan trọng trong chân giá trị toàn bộ sự nghiệp làm quan, làm thày... của ông. Duy chỉ có vấn đề của Chí Am Đông Khê thi tập làm chúng tôi rất băn khoăn. Giải mã văn bản Chí Am Đông Khê thi tập A.391, chúng tôi mới chỉ hy vọng làm được một việc là lưu ý các nhà nghiên cứu khi khảo sát thơ văn của Cụ Nghè Đông Tác và hoàn trả “châu về Hợp Phố” với ba tác giả: Nguyễn Văn Lý, Phan Huy Vịnh và đặc biệt là Phạm Chi Hương, nhưng còn việc tìm lại “chân diện mục” của Chí Am Đông Khê thi tập và gốc gác những bài thơ của My Xuyên (Phần II B Chí Am) chắc chắn phải trông chờ ở các công trình khác của đồng nghiệp.
Chú thích:
Phan Hy Hiến, Phan Cử: hiệu là Hy Hiến người xã Thổ Hào, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đỗ Cử nhân khoa Tân Tỵ, niên hiệu Minh Mạng thứ 2 (1821), làm tới chức Đốc học Bình Định.
(2). Xin xemTảo Trang, bài Nguyễn Văn Lý, người con của Kinh thành Thăng Long trong Chí Đình Nguyễn Văn Lý - Tuyển tập thơ văn; Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011; Mai Hồng, Đinh Công Vĩ trong Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý và dòng họ Nguyễn Đông Tác, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2000.
(3). Nếu theo Bản A. 1873 thì bài này Nguyễn Văn Lý phải sáng tác lúc đi từ Phú Xuân ra Huế, sau khi bị tố tụng ở Bình Định, nhưng như vậy thì đây là một bài đơn lẻ, không thể minh chứng cho con đường đi sứ xuất phát từ Phú Yên năm 1841. Bản A. 1873 cũng không chép tiếp 2 bài Đồ trung ngẫu đắc và Quá Tư Nghĩa phủ.
(4). Nguyên chú: “Bấy giờ sứ bộ sang nhà Thanh trở về nước. Lần này sứ bộ ra đi từ năm Tự Đức thứ 3 (1850, nhưng năm này lại hoãn, mãi 1853 mới lên đường). Tháng Giêng, ngày 10 xuất quan đi lên Bắc, đến nay đã 3 năm rồi. Bởi vì nước Thanh giặc dã quấy nhiễu, đường xá không thông, đến nỗi phải chậm trễ đến 3 năm. Gần đây nghe đã từ Quảng Đông chờ thuận tiện sẽ đi đường biển về nước, cho nên trẫm rất mong đợi”.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.649-666)