VI | EN
82. Một số vấn đề về văn bản và nội dung tư tưởng trong sách Trung kinh (TBHNH 2012)
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.676-688)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN BẢN VÀ NỘI DUNG

TƯ TƯỞNG TRONG SÁCH TRUNG KINH

NGUYỄN VĂN THANH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1.Những vấn đề văn bản Trung kinh

Hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ một bản Trung Kinh đóng cùng với Hiếu kinh mang ký hiệu VHV.1006 sách do Mao Sư Trịnh, Thẩm Minh Viễn và Lý Chương Mỹ (Trung Quốc) biên tập và được in lại vào tháng 3 năm Tự Đức thứ 5 (1852) sách in, 66 trang khổ 26x14cm, in trên giấy dó. Sách có hai bài tựa, hai mục lục. Một bài tựa và mục lục của sách Trung kinh và mục lục của sách Hiếu kinh. Đối với chúng ta nói tới đạo Hiếu hay sách Hiếu kinh thì rất quen thuộc, nhưng nói tới đạo Trung, hay Trung kinh thì chưa được tỏ tường, với phương trâm tìm hiểu và học tập các sách học tập của Nho gia chúng tôi tiến hành đọc tìm hiểu sách Trung kinh giới thiệu trong hội nghị Thông báo Hán Nôm năm nay.

Văn bản Trung kinh cũ phần tác giả đều ghi là do Mã Dung (làm Thái thú Nam Quận thời Hậu Hán) soạn và Trịnh Huyền viết chú. Văn phong viết mô phỏng lại Hiếu kinh, chia làm 18 chương. Sau mỗi chương thường trích một câu trong Kinh Thi hoặc Kinh Thư để thâu tóm toàn bộ nội dung của cả chương. Phần kinh văn và phần chú dường như là cùng một người viết. Khi xem những trước tác của Mã Dung còn chép đầy đủ ở phần Bản truyện của sách Hậu Hán thư và chú thích của Trịnh Huyền trong mục Trịnh chí thì thấy không ghi rõ.

Phần Kinh tịch chí của sách Tuỳ thưKinh tịch chí sách Đường thư đều không thấy ghi chép gì về Trung kinh. Chỉ đến sách Sùng văn tổng mục mới thấy ghi tên sách, và coi Trung kinh là ngụy thư đời Tống. Sách Ngọc hải có dẫn: “Sách Trung kinh là của Hải Bằng đời Lưỡng Tống soạn”. Nguyên Thoát Thoát là chủ biên cuốn Tống sử, phần Nghệ văn chí chép Trung kinh là của Trịnh Huyền. Còn căn cứ vào khảo chứng học của Chu Nhất Tân thì Trung kinh là do Mã Dung đời Đường soạn mà không phải do Mã Dung đời Hậu Hán làm.

Sách Trung kinh vốn dĩ có tác giả, nhưng những người sau bỏ đi tên tác giả vốn có của nó và thay vào đó là Mã Dung soạn, Trịnh Huyền chú. Việc làm đó chỉ để làm tăng giá trị của tác phẩm và tầm ảnh hưởng của nó. Bởi vậy sách Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu khẳng định đó là ngụy thư đời Tống. Nhưng chúng ta tin theo sách Ngọc hải thì Trung kinh là của Hải Bằng đời Tống soạn và đó là chân bản chứ không phải ngụy bản.

2.Một số nét về nội dung tư tưởng của Trung kinh

Trung là một phạm trù quan trọng của Nho gia, là phạm trù luân lí và cũng là phạm trù chính trị.

Thời Tiên Tần, “trung” đa phần là phạm trù luân lí, ví như: “Vị nhân mưu nhi bất trung hồ?” nghĩa là: bàn tính hộ người có hết lòng chăng? (Luận ngữ - Học nhi), “trung yên, năng vật hối hồ?” (Luận ngữ - Hiến vấn). Trên phương diện luân lí, “trung” là chỉ trung thành, thành tâm, toàn tâm toàn ý, nó là phẩm chất đạo đức hết sức quan trọng trong giao đãi với bè bạn. Khi Khổng Tử nói: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (Vua sai khiến bề tôi bằng lễ, bề tôi thờ vua bằng đạo trung) thì quan niệm này vẫn chỉ là nói về phương diện luân lí. Nhưng đối với Khổng Tử, quan niệm về “trung” đã ít nhiều bao hàm yếu tố chính trị, như nói “hành chi dĩ trung” (Luận ngữ - thiên Bát Dật và thiên Nhan Uyên).

Đến thời Chiến quốc, Mạnh Tử quan niệm về quan hệ vua - tôi là “quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như quốc nhân, quân thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu cừu”, nghĩa là: vua coi bề tôi như chân tay thì bề tôi coi vua như quốc nhân, vua coi bề tôi như cỏ rác thì bề tôi coi vua như giặc cướp (Mạnh Tử - Li Lâu hạ). Quan hệ quân - thần là quan hệ chân tay, quan hệ tâm phúc và cũng là một mối quan hệ mang tính hai chiều, giống như Khổng Tử nói “Quân sử thần dĩ lễ, thần sử quân dĩ trung”.

“Trung” là một vấn đề được rất nhiều tiên Nho và các sách kinh điển bàn tới. Nhưng nó không tập trung thành một vấn đề hay trong một cuốn sách chuyên biệt. Chỉ khi Trung kinh xuất hiện thì đây mới thực sự là một tác phẩm chuyên biệt bàn về đạo “trung”. Đối tượng sách đề cập đến rất rộng, đó là đạo “trung” của bậc quân vương, đạo “trung” của quan đại thần, đạo “trung” của tướng sĩ, và cả đạo “trung” của bách tính lê dân.

Chúng ta sẽ tìm hiểu “trung” ở từng đối tượng.

Chương thứ nhất Thiên địa thần minh đã giải thích một cách khái quát như sau về đạo “trung”: “Thượng hạ nhất đức, dĩ trưng thiên hưu, trung chi đạo dã” / (Trên dưới một đức để nghiệm cái tốt đẹp của trời là đạo “trung”) và khảng định “mạc đại hồ trung” (không có gì lớn bằng “trung”). Trong trời đất bao la muôn vật đều được phổ vào đó đạo “trung”. Trời có “trung” thì bốn mùa xuân hạ thu đông mới tuần hoàn chu chuyển, đất có “trung” thì muôn vật sinh sôi nảy nở. ý nghĩa mặt này của “trung” gần với “trung hoà” trong sách Trung dung: “Trí trung hoà thiên địa vị yên vạn vật dục yên” (Trung hoà đến tột cùng thì trời đất yên vị, vạn vật sinh sôi nảy nở). Bản thân thiên địa đã “trung” nhưng chính thiên (trời) cũng là một vị “thần tối cao” giám xét mọi người làm điều “trung” và điều “bất trung”. Chương Chứng ứng có câu viết: “Duy thiên giám nhân, thiện ác tất ứng” (Trời giám xét người làm điều thiện ác ắt có báo ứng). ở khía cạnh này, đạo “trung” có điểm gần giống với thuyết “nhân quả” của đạo Phật. Kinh Thư viết “Tác thiện giáng bách tường, tác bất thiện giáng chi bách ương” nghĩa là: làm điều thiện thì được ban nhiều điều tốt lành, làm điều bất thiện thì giáng xuống nhiều tai ương.

Trời đất còn phải giữ đạo “trung”, huống chi là con người mà người đó lại là một ông vua. Trong sách Trung kinh có nhiều chương viết về điều “trung” của ông vua phải làm. Chương thứ hai Thánh quân viết: “Cố vương giả thượng sự vu thiên, hạ sự vu địa, trung sự vu tung miếu, dĩ lâm vu nhân” - nghĩa là: bậc đế vương, trên thờ trời, dưới thờ đất, giữa thờ tông miếu để ngự trị mọi người. Nho gia coi tế tự là rất quan trọng, cho nên luôn nghiêm cẩn thực hiện, khi tế tự phải trai minh thịnh phục. Khi ông vua tôn kính việc tế tự thiên địa và tiên tổ của mình một cách thành kính thì thần dân của ông ta sẽ học tập theo, và sẽ hết sức trung thành với đất nước và ông vua đó. Đây là cách giáo dục về luân lí mà được phổ vào đó là giáo dục tư tưởng chính trị.

Mẫu hình lí tưởng của một ông vua là “Đoan lưu nhi tự hoá” - nghĩa là: nhà vua rủ mũ mà dân tự hoá, “Vô vi nhi thiên hạ thanh” - nghĩa là: nhà vua vô vi mà thiên hạ tự thanh khiết (Quảng chí lý). Nhà vua “vô vi” nhưng chính nhà vua phải làm rất nhiều việc để đạt tới mẫu hình lí tưởng đó. Việc quan trọng của một đất nước là xây dựng một hệ thống quan lại, thế thì nhà vua dùng người như thế nào? “Lộc hiền quan năng” - Nhà vua dùng những người thực sự có tài năng, giúp họ có một vị trí tương xứng với khả năng, cung cấp cho họ bổng lộc trọng hậu. Nhưng để nhận diện được đâu là người hiền, đâu là người bất hiền lại rất khó. Chương Biện trung có viết: “Tiểu nhân chi ngôn nịnh nhi tự trung”, tức là lời nói của tiểu nhân nịnh mà tựa như trung. Dùng người hiền rồi phải biết biện biệt phải trái, bỏ đi những kẻ bất tài xiểm nịnh “minh chủ chi vi quốc dã, nhiệm vu chính khử vu tà” nghĩa là: bậc minh chủ cai trị đất nước phải dùng người chính trực, bỏ đi kẻ gian tà (Quảng vi quốc). Ông vua là người có đức có tài thay trời trị dân. Nhưng không vì thế mà tham lam vơ vét hết của cải trong thiên hạ làm của riêng mình. Vẫn biết rằng dưới gầm trời này không cái gì là không phải của vua. Lại ở trong chuơng Quảng chí lí viết “bất tư nhi thiên hạ tự công, tiện trân tắc nhân khử tham, triệt xỉ tắc nhân tòng kiệm” nghĩa là: không riêng tư thì thiên hạ tự công bằng, coi thường đồ quý báu thì mọi người bỏ điều tham lam, bỏ hết xa xỉ thi người theo kiệm ước. Chương Quảng chí lí đã nêu những phẩm chất của bậc thánh xưa đã làm là: “bất nghi” “bất tư” “triệt xỉ” “dụng thực” và “sùng nhượng”. Bậc minh quan làm được những điều này thì sẽ đạt được những thành quả tốt đẹp như: “cố đắc nhân tâm hoà bình, thiên hạ thuần chất, lạc kỳ sinh bảo kỳ thọ, ưu du thánh đức dĩ vi tự nhiên chi chí dã” nghĩa là: cho nên lòng người hài hoà, thiên hạ thuần chất, vui với cuộc sống của mình, gìn giữ được tuổi thọ của mình, thoả thuê thánh đức mà cho là tự nhiên được thế.

Là một ông vua giỏi vẫn có những lúc mắc phải sai lầm, cho nên khi có những lời can gián của bề tôi, đúng thì nghe, đúng thì sửa, không nên để cho các bậc trung thần phải chọn cách cuối cùng là tuẫn tiết để thức tỉnh nhà vua. Kinh Thư có câu: “Cây theo uốn nắn thì ngay thẳng, vua theo lời can gián là bậc thánh minh”, cho nên đức Khổng Tử cũng viết “Quan sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung”.

Thời Tần Hán thiết lập được chế độ phong kiến trung ương tập quyền thì “trung” trở thành phạm trù đạo đức mà Hoàng đế của các triều đại rất mực đề cao. Trung kinh ra đời cũng nhằm ghi lại những tư tưởng “trung” của giai đoạn này. Cho nên những tư tưởng “trung” của bề tôi, của con dân đối với nhà vua, thì mỗi người ở mỗi địa vị và sẽ có nhiệm vụ, có đạo “Trung” khác nhau.

Làm bề tôi thì bất cứ ai việc đầu tiên cũng phải “vi thần sự quân, trung chi bản dã” - nghĩa là: làm bề tôi thờ vua là gốc của “trung” (Trung thần). Ở địa vị quan đại thần thì nhiệm vụ của ông quan là ngầm mưu tính trù hoạch kế sách, sắp đặt công việc để đất nước yên vững. Vị trí của quan “trủng thần” là đứng dưới một người mà trên muôn người. Cho nên mọi việc làm, hành động của ông ta đều ảnh hưởng trực tiếp tới hạ quan và lê dân. Ông vua và quan “trủng thần” có thể nói là “nhất thể”. Chương Trủng thần viết: “Đạo trung há chỉ là vì vua quên mình, vì nước quên nhà, dung mạo đoan chính, lời nói thẳng thắn, khi lâm nạn chế để giữ tiết tháo chăng?” Đúng là không phải quan “trủng thần” chỉ làm những việc đó. Nhiệm vụ của ông ta còn là tiến cử những người hiền tài cho vua, để vua biết mà sử dụng họ. Quan “trủng thần” là cánh tay đắc lực của nhà vua. Quan “trủng thần” có thể làm sáng đức sáng của quân vương, để bách quan noi theo.

Cũng là địa vị của một ông quan nhưng các quan “Bách công” lại có một loạt những nhiệm vụ cụ thể khác để thực hành đạo “Trung”. Thờ vua, thuận theo quan trên, phải luôn cung kính, dâng kế sách, luôn luôn suy ngẫm về công việc chính sự để làm sao chính lệnh được tốt đẹp. Khi nói với bề trên phải thẳng thắn, không e ngại. Đức Khổng Tử cũng có những cử chỉ như trên. Luận ngữ, thiên Hương đảng chép rằng, Khổng Tử “triều, dữ hạ đại phu ngôn, khản khản như dã, dữ thượng đại phu ngôn, ngân ngân như dã” / (Trong triều, nói với các quan hạ đại phu, đức Khổng Tử luôn nghị luận khúc chiết, nói với các quan thượng đại phu, ngài giữ thái độ nói năng hoà nhã). Đức “trung” của quan “bách công” là khi thấy có lợi cho xã tắc thì không nghĩ đoái nghĩ đến bản thân (“Cẩu lợi xã tắc, tắc bất cố kỉ thân” - Thiên Bách công). Nhiệm vụ của quan “trủng thần” và các quan “bách công” là để ân đức của nhà vua ban bố rộng khắp tới bách tính lê dân.

Quan “Thú tể” là vị quan trực tiếp cai trị dân. Cho nên, đạo “trung” của những ông quan này phải là “tại quan duy minh, lị sự duy bình, lập thân duy thanh, thanh tắc vô dục, bình tắc bất khúc, minh năng chính tục”, tức là: làm quan phải sáng suốt, làm việc phải công bằng, lập thân phải liêm khiết. Liêm khiết thì không ham muốn, công bằng thì không cong vạy, sáng suốt thì có thể chính được phong tục (Thú tể). Là ông quan cai trị dân, phải giúp dân thoả chí nguyện của dân, nghĩa là làm rạng đức nhà vua, sáng tỏ phép nước, làm cho dân ăn no mặc ấm và giàu có, khiến cho dân biết không mắc phải hình phạt. “Tuyên quân đức dĩ hoằng kỳ đại hoá, minh quốc pháp dĩ chí vu vô hình” (Bày tỏ đức của vua để hoằng dương đại hoá, làm sáng tỏ phép nước để đạt đến không hình phạt - Thiên Thú tể). Ông quan “Thú tể” luôn coi dân như con, thực sự là “dân chi phụ mẫu” (là cha mẹ dân), và chỉ như vậy mới có thể “tắc nhân ái chi, như ái thì thân” / (Mọi người yêu mến quan như đấng thân của họ). Đó là những việc làm để theo đạo “trung” của quan “Thú tể”.

Một đất nước không thể không có quân đội. Quân đội để bảo vệ đất nước, giữ vững ổn định hoà bình cho bậc quân vương. Vậy thì quân đội cũng cần thi hành đạo “trung”. Chương Vũ bị đề xướng: “Vương giả lập vũ, dĩ uy tứ phương, an vận nhân dã” - nghĩa là: nhà vua thiết lập quân đội để ra uy bốn phương, khiến nhân dân yên ổn. Người làm tướng soái thống lĩnh quân đội phải biết và làm được sáu điều sau: “Lấy nhân để vỗ về tướng sĩ, lấy nghĩa để khích lệ tướng sĩ, lấy lễ để giáo huấn tướng sĩ, lấy tín để sai khiến tướng sĩ, lấy thưởng để khuyến khích tướng sĩ, lấy phạt để ước thúc tướng sĩ”. Làm được những điều đó thì quân đội hùng mạnh, đánh thì thắng mà phòng thủ thì kiên cố. Trong sách Luận ngữ có câu “Nội mục dĩ văn, ngoại uy dĩ vũ” - nghĩa là: Dùng văn để hoà mục bên trong, dùng vũ để uy chấn bên ngoài. Đó là ý nghĩa đạo “trung” của tướng soái.

Bách tính lê dân là những người thấp nhất của xã hội. Họ cũng cần thực hành đạo “trung”. Những người dân được sinh ra trong cảnh đất nước thanh bình thì đó là vì họ may mắn được nhờ vào ơn đức của bậc đế vương. Cho nên, họ sống phải dựa theo phép nước, thuận theo đức giáo hoá của nhà vua. Người dân cấy cày thì phải thuận theo thời tiết: “Phục cần giá sắc, dĩ cung vương phú” (Chuyên cần vào việc đồng áng để đóng thuế cho nhà vua). Ngoài ra, người dân còn phải biết hiếu kính với cha mẹ, tôn kính các bậc tông trưởng: “Nhập tắc hiếu xuất tắc lễ” (Khi vào hiếu với cha mẹ khi ra kính nhường người lớn tuổi - Luận ngữ, thiên Học nhi). Mọi người đều làm được như vậy thì quốc phú dân cường, cũng là “trời đất hanh thái yên bình theo đức của quân vương”. Trong chương Tận trung cũng có viết “tiểu nhân tận trung thì hết sức mình. Người hết sức thì chỉ dừng ở thân mình”. Đó là ý nghĩa của đạo “trung” ở người thường dân.

Khi bàn tới đạo “trung”, người ta thường nghĩ ngay tới người cương trực thẳng thắn, dám nói ra những lời phải trái đối với những người trên mình. Trung kinh dành riêng một chương để nói về việc can gián. Nhưng “can gián” có cương, có nhu mà không phải chỉ là cương trực, thẳng thắn. Tư tưởng “trung” trong toàn bộ sách Trung kinh không phải là “ngu trung”, là trung một cách mù quáng. Thực hiện đạo “trung” không phải chỉ biết một lòng “trung”, cho dù đó là với ông vua trái đạo. “Trung” đòi hỏi phải biết dẫn giải, phân tích, cần phải tìm những cách thức can gián hợp lí, tối ưu nhất, hiệu quả nhất, chẳng hạn như dùng lời nói hay cử chỉ, hành động, dùng cách nói gián tiếp hay trực tiếp. Nhưng trong Trung kinh, “can gián” vẫn có tính chất hơi cực đoan là “Chung vu tử tiết dĩ thành quân hưu, dĩ ninh xã tắc” - nghĩa là: cuối cùng là tử tiết để vua tốt lành, để xã tắc yên ổn (Trung gián). Chương Bách công có câu: “Ngôn sự vô đạn, cẩu lợi xã tắc, tắc bất cố kỳ thân” - nghĩa là: khi nói về bề trên thì thẳng thắn mà không e ngại, nếu có lợi cho xã tắc thì không tiếc bản thân. Song cũng xin lưu ý rằng, “trung” ở đây không chỉ là “trung” với vua, mà là “trung” với quốc gia để có lợi cho đất nước. Câu đầu của chương Can gián có nói: “Bậc trung thờ vua, không gì trước hơn việc can gián”. Bởi vì, “can gián” là công việc rất khó khăn. Thuyết phục thế nào để nhà vua nghe theo và sửa chữa những sai lầm lại đòi hỏi cả một nghệ thuật. “Can gián” như ở Trung kinh có ba cấp độ: “Can gián lúc chưa thành hình, can gián lúc đã thành hình, và can gián khi việc đã xảy ra rồi”. Bậc trung thần can gián giỏi là người biết can gián nhà vua lúc sự việc chưa xảy ra - Đó là thượng sách, là chu toàn, mà không để xảy ra những hậu hoạ cho đất nước cũng như người can gián. Mức độ thấp hơn là can gián khi ông vua đã trái đạo. Lúc can gián, kẻ bề tôi phải biết dùng lời lẽ mềm mỏng, nếu không được sẽ dùng tới những lời kháng nghị biện luận. Biện pháp sau cùng mới là tử tiết để thức tỉnh nhà vua.

Quan điểm về “trung” ở khía cạnh này khắt khe hơn quan điểm “trung” của Nho gia tiên Tần. Đức Khổng Tử khi nói về Nam Dung có câu “Bang hữu đạo bất phế, bang vô đạo miễn ư hình lục” - nghĩa là: Nước có đạo chẳng bị phế bỏ, nước vô đạo thoát được giam cầm chết chóc. Nói cách khác nước có đạo thì ở, nước vô đạo thì đi. Hoặc theo như Mạnh Tử: “Khi vua đối xử với bề tôi không bằng lễ thì thần phụng sự vua không nhất thiết phải trung. Lúc đó, bề tôi có thể coi ông vua như kẻ thù, tuỳ theo thời điểm mà lật đổ sự thống trị của ông ta”. Đó không phải là “thí quân” (giết vua) mà là “tru nhất phu” (giết một kẻ sất phu). Cách hành xử này thể hiện rõ là không “ngu trung”. Chúng ta biết rằng, Trung kinh ra đời vào thời điểm nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở trình độ cao. Do đó, quan niệm “trung” của Trung kinh có phần cứng nhắc hơn.

Quan niệm về “hiếu” thể hiện trong sách Trung kinh.

“Hiếu” được nói rất nhiều trong tác phẩm Luận ngữ, Mạnh Tử. Đức Khổng Tử cho rằng “quốc” (nước) cũng chỉ là một “gia” (nhà) lớn mà thôi. Trời là cha, đất là mẹ, vua là con truởng. Vì vậy, Khổng Tử đã lấy đạo hiếu để phổ vào nó lí luận chính trị, “hiếu” với cha mẹ để thờ vua, dùng nết “đễ” với anh để tôn kính bậc trưởng thượng.

Trong Luận ngữ, Khổng Tử viết: “Sự phụ mẫu cơ gián kiến chí bất tòng, hữu kính bất vi, lao nhi bất oán” - nghĩa là: Thờ cha mẹ có khuyên can cũng phải nhẹ nhàng, nếu song thân không nghe theo thì tỏ lòng cung kính và đừng trái ý, vì cha mẹ khó nhọc cũng chẳng tỏ vẻ oán giận.

Chữ “hiếu” trong luân lí gia đình là vô điều kiện, còn chữ “hiếu” trong “trung hiếu” thì phải có điều kiện qua lại. Bề tôi theo đạo để thờ vua, vua thi theo lễ để sai khiến bề tôi. Chương Bảo hiếu hạnh viết: “Phù duy hiếu giả tất quý vu trung” - nghĩa là: bậc hiếu ắt quý ở trung. Cũng ở chương này, phần mở đầu viết: “Hiếu là phải quý ở trung, có trung thì mới có hiếu”. Sách Trung kinh nêu lên một loạt các điều cần tránh để không mất chức, không mất bổng lộc và quan trọng nhất là không để cho cha mẹ bị nhục. Trung kinh viết: “Cố quân tử hành kỳ hiếu tất tiên dĩ trung” - nghĩa là: người quân tử thi hành đạo hiếu trước tiên ắt phải trung. Cho nên lấy hiếu thờ vua thì “trung”, hết lòng trung thì phúc lộc sẽ đến, cho nên có thể hết lòng kính yêu phụng dưỡng đấng thân. Song, theo quan niệm của sách Hiếu kinh, có lẽ đạo của người quân tử là đi từ đạo “hiếu” thờ cha mẹ để đi tới đạo “trung” thờ vua: “Dĩ hiếu sự quân tắc trung” - nghĩa là: lấy hiếu thờ vua thì trung.

Như vậy, đạo “trung” và đạo “hiếu” kết hợp với nhau, dựa vào nhau, bổ trợ cho nhau. Có thể theo Trung kinh thì khởi điểm là “trung” để “hiếu” trọn vẹn, để phụng dưỡng cha mẹ. Còn theo Hiếu kinh thì “hiếu” với cha mẹ, “đễ” với anh em, rồi đem đạo “hiếu” ra thờ vua, mang đạo “đễ” để kính bậc quan trưởng - như vậy là thực hành đạo “trung”. Nói như thầy Hữu Tử trong Luận ngữ thì: “Người có lòng hiếu đễ mà lại ưa phạm tới bề trên, là chuyện hiếm, đã không ưa phạm bề trên mà lại ưa phạm thượng là chuyện chưa hề có (Luận ngữ - Học nhi).

Tư tưởng “trung” trong sách Trung kinh được đề cập trên nhiều khía cạnh, và đã tiếp thu được những tư tưởng trung của nho gia Tiên Tần. Tư tưởng được hình thành từ thời Tần Hán và tới thời Đường Tống đã định hình cho nên quan niệm về báo quốc tận trung vẫn là một công thức bất di bất dịch. Một người nho sĩ đi thi đỗ được làm quan đó là “hoàng ân hạo đãng” trí nguyện một niềm làm sao báo đáp ân đức đó. Những bề tôi này luôn suy nghĩ làm sao “tiến cử người hiền, hiến kế sách, lập chiến công, hưng lợi” với những nhiệm vụ trên thì cả một đời làm quan thì ông quan đó vẫn làm không hết. Đó là khi gặp được vị minh quân, còn gặp phải những ông vua “trái đạo” hay gặp cảnh nạn của đất nước thì không còn cách nào khác là “tuẫn quốc vong thân”.

Nhưng xét theo quan niệm nhân văn thì trung hiếu vẫn còn nguyên giá trị, và nó còn được phát triển theo chiều hướng mới. Như câu nói Hồ Chủ Tịch đã dạy lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam: “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào, cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” đó là tư tưởng Trung kinh mà Bác Hồ đã thổi vào một luồng sinh khí mới, khiến tư tưởng trung hiếu gần gũi với nhân dân hơn. Nếu biết vận dụng trung hiếu một cách phù hợp thì trung hiếu vẫn là động lực giúp cho nhà nhà hạnh phúc, đất nước được thái bình “ tứ hải chi nội, hữu thái bình âm”.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Thuyết trung hiếu (Nho học thông thuyết) của Tiền Thế Minh, Nxb. Bắc Kinh - Kinh Hoa xuất bản xã, năm 1999.

2. Trung hiếu kinh, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv. 1006.

3. Trung Quốc nho học, tập 4, Bàng Phác (Chủ biên).

4. Kinh Thi, bản dịch của Tạ Quang Phát, Nxb. Văn học, năm 1992.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.676-688)

Nguyễn Văn Thanh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm