VI | EN
85. Cách dịch cấu trúc định - trung từ Hán sang Việt thiên Cáo tử trong Mạnh Tử ước giải (TBHNH 2012)
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.703-712)

CÁCH DỊCH CẤU TRÚC ĐỊNH - TRUNG TỪ HÁN SANG VIỆT
THIÊN CÁO TỬ TRONG MẠNH TỬ ƯỚC GIẢI

TRƯƠNG VĂN THẮNG

Viện nghiên cứu Hán Nôm

 

Dịch từ Hán sang Việt ở nước ta đã có một lịch sử lâu đời, từ các tác phẩm dịch kinh Phật đầu tiên cho đến các tác phẩm kinh điển Nho gia, thơ văn sau này.

Tứ thư ước giải 四書約解 là một bộ thư tịch cổ do người Việt Nam (chưa xác định được tác giả) dịch Nôm và chú giải bộ Tứ thư 四書của Nho gia Trung Quốc. Văn bản duy nhất hiện còn cho tới ngày nay do Lê Quý Đôn(1) trùng san, được khắc lại vào năm 1839 dưới triều vua Minh Mệnh với tổng số 916 trang, hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu là AB.270/1-5. Đây là bộ sách với mong muốn giúp cho những người mới học chữ Hán vượt qua những rào cản ngoại ngữ để tiếp xúc với những khái niệm, những tôn chỉ ban đầu của đạo Nho. Bởi lẽ từ lâu việc học kinh điển Nho gia đã là một việc khó, nhất là học với một thứ ngôn ngữ như tiếng Hán lại càng khó hơn. Do đó yêu cầu đặt ra là ngoài việc vừa học nguyên bản chữ Hán thì cần phải có một bản dịch Nôm, bản dịch Nôm giúp cho người học tiếp cận một cách dễ dàng không chỉ những đại thể kinh điển Nho gia mà còn cung cấp cho người học những hiểu biết ban đầu về ngữ pháp tiếng Hán cũng như cách chuyển dịch Hán sang Việt, đặc biệt là việc chuyển dịch các cấu trúc ngữ pháp quan trọng như cấu trúc định - trung. Một lý do quan trọng là vì: trong trật tự ngữ pháp tiếng Việt thì trung tâm ngữ trước, định ngữ đứng sau, còn trong tiếng Hán thì định ngữ đứng trước trung tâm ngữ. Trung tâm ngữ thường là danh từ hoặc là từ có tính danh từ đảm nhiệm. Các loại từ có thể đứng làm định ngữ rất phong phú, bao gồm: danh từ, ngữ danh từ, động từ, tính từ,cụm động tân, đại từ, số lượng từ... Về mặt hình thức, giữa định ngữ và trung tâm ngữ có thể có hoặc không có trợ từ kết cấu chi . Theo tìm hiểu của chúng tôi cách dịch Nôm trong thiên Cáo tử là điển hình cho việc dịch cấu trúc định - trung từ Hán sang Việt trong sách Mạnh Tử ước giải, do đó việc tìm hiểu cách dịch cấu trúc định - trung trong đó sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về cách dịch cấu trúc này trong sách Mạnh Tử ước giải cũng như toàn bộ bộ Tứ thư ước giải. Dưới đây xin trình bày chi tiết kết quả khảo sát của chúng tôi:

1.Nhóm không có công cụ từ “chi”

Nhóm này kết cấu đơn giản, mối quan hệ giữa định ngữ và trung tâm ngữ khá giản đơn. Mô hình kết cấu chung là định ngữ - trung tâm ngữ. Xét về phương diện từ loại đảm đương chức năng, ta có các kiểu kết cấu sau:

1.1. Động từ + Danh từ

Trong kiểu kết cấu này định ngữ là động từ, trung tâm ngữ là danh từ. Theo thống kê thì kiểu kết cấu này trong thiên Cáo tử xuất hiện 4 lần/ 242 lần kết cấu không có công cụ từ “chi”. Ở kiểu kết cấu này khi chuyển dịch thì được dịch theo đúng cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt, tức là trung tâm ngữ trước, định ngữ sau, ví dụ:

-湍水 (thoan thủy) được dịch Nôm là 渃沚 (nước chảy)

1.2. Đại từ + Danh từ/ Ngữ danh từ

Trong kiểu kết cấu này định ngữ là đại từ, rất phong phú về thể loại như: đại từ nhân xưng ngã , ngô , đại từ tha xưng kỳ , đại từ chỉ thị thử , thị , bỉ . Trung tâm ngữ là danh từ, ngữ danh từ.

Đối với kiểu kết cấu này khi chuyển dịch thì được chuyển dịch theo 2 cách là ngữ pháp tiếng Hán (tức định ngữ trước, trung tâm ngữ sau) đối với đại từ tha xưng kỳ , ví dụ:

-其性 (kỳ tính) được dịch Nôm là 所性 (thửa tính)

-其日夜之所息 (kỳ nhật dạ chi sở tức) được dịch Nôm là 所店𣈜蒸所生(thửa đêm ngày chưng thửa sinh).

Cách dịch theo ngữ pháp tiếng Hán này là do người dịch “bị ảnh hưởng của lối câu lệ hành văn chữ Hán và lối giảng sách xưa”(2).

Và dịch theo ngữ pháp tiếng Việt (tức trung tâm ngữ trước định ngữ sau) đối với các đại từ làm định ngữ còn lại, ví dụ:

-我口 (ngã khẩu) được dịch Nôm là 𠱄些 (miệng ta).

1.3. Hình dung từ + Danh từ

Ở kiểu kết cấu này hình dung từ làm định ngữ, nó được gọi là: “định ngữ chỉ tính chất, hình trạng”(3). Trung tâm ngữ là danh từ. Khi dịch kiểu kết cấu này được chuyển dịch theo đúng ngữ pháp Tiếng Việt, tức trung tâm ngữ trước, định ngữ sau, ví dụ:

- 小官 (tiểu quan) diễn dịch Nôm là (quan mọn).

Tuy nhiên cũng có 1 số chỗ khi chuyển dịch thì được giữ nguyên theo cấu trúc ngữ pháp của tiếng Hán và được chú thích thêm, ví dụ:

- 小人 (tiểu nhân) diễn dịch Nôm là 几小人 (kẻ tiểu nhân).

Việc chuyển dịch giữ nguyên theo cấu trúc ngữ pháp của tiếng Hán và được chú thích thêm có thể do: ngoài việc là một cấu trúc định - trung thì đây còn là những ngữ cố định, được sử dụng quen thuộc trong tiếng Việt.

1.4. Danh từ + Danh từ

Đây là kiểu kết cấu được sử dụng phổ biến trong thiên Cáo tử, theo số lượng thống kê thì kiểu kết cấu này có tới 72 lần xuất hiện. Trong kiểu kết cấu này định ngữ là danh từ, trung tâm ngữ cũng là danh từ, khi chuyển dịch thì nó chủ yếu được dịch theo đúng ngữ pháp tiếng Việt, tức định ngữ trước, trung tâm ngữ sau, ví dụ:

- 人性 (nhân tính) được dịch Nôm là 性㝵(tính người).

Tuy nhiên cũng có tương đối nhiều cấu trúc định - trung dạng này được dịch theo ngữ pháp tiếng Hán, tức trung tâm ngữ trước, định ngữ sau, có thể có hoặc không có chú thích thêm, ví dụ:

- 天子 (thiên tử) được dịch Nôm là 天子 (thiên tử), hoặc 𡾵天子 (ngôi thiên tử).

Việc chuyển dịch giữ nguyên theo cấu trúc ngữ pháp của tiếng Hán và được chú thích thêm có thể do: ngoài việc là một cấu trúc định - trung thì đây còn là những ngữ cố định được sử dụng rất nhiều trong trong các lĩnh vực đời sống xã hội, là những ngôn từ thông dụng, khá quen với thuộc với mọi người, kể cả với những người không biết chữ Hán nên mọi người đều hiểu nó, vì thế không nhất thiết cần dịch. Ở đây, ngoài việc giữ nguyên các ngữ cố định vào thì người diễn Nôm còn chú thích thêm giải thích rõ thêm ngữ cố định đó trong văn cảnh ấy nghĩa là gì. Theo thống kê các ngữ cố định nêu trên thì chỉ có ngữ cố định thiên tử 天下 (xuất hiện 11 lần) khi dịch là giữ nguyên, không có chú thích thêm, còn các ngữ cố định như Sở vương 楚王, tội nhân 罪人, thánh nhân 聖人, thiên tử 天子 đều được chú thích thêm, mặc dù trong một số phiến đoạn có thể không cần thiết. Điều này có thể là do Tứ thư ước giải vốn là sách dùng để dạy cho trẻ nhỏ, đây là lứa tuổi mà trình độ nhận thức còn hạn chế nên có những chỗ cần giải thích rõ hơn.

1.5. Số từ + Danh từ

Trong kiểu kết cấu này số từ làm định ngữ, trung tâm ngữ là danh từ. Trong thiên Cáo tử số từ làm định ngữ cũng chiếm số lượng khá nhiều (51 lần). Khi dịch kiểu kết cấu này thì tùy vào văn cảnh người dịch Nôm sẽ dịch cho phù hợp, có thể theo ngữ pháp tiếng Hán, ví dụ:

- 五命 (ngũ mệnh) được dịch Nôm là 𠅜命次𠄼 (lời mệnh thứ năm).

Trong các ví dụ nêu trên thì việc dịch theo cấu trúc tiếng Hán sẽ phù hợp hơn với cách nói của người Việt, tuy nhiên cũng có một số kết cấu như tam quân 三軍 còn là một ngữ cố định nên có thể giữ nguyên không cần dịch.

Hoặc cũng có thể theo ngữ pháp tiếng Việt, tức trung tâm ngữ trước, định ngữ sau, ví dụ:

- 一 朝 (nhất triêu) được dịch Nôm là 蔑歛埋 (một sớm mai).

Trong trường hợp này thì việc dịch theo ngữ pháp tiếng Việt nghe sẽ thuận tai hơn với cách nói của người Việt.

1.6. Đại từ + Hình dung từ

Trong kiểu kết cấu này định ngữ là đại từ. Trung tâm ngữ là do hình dung từ hoạt dụng chuyển loại thành danh từ. Kiểu kết cấu này chiếm số lần khá khiêm tốn trong toàn bộ thiên Cáo tử (8 lần). Cũng giống như kiểu kết cấu đại từ + danh từ, cách chuyển dịch từ Hán sang Việt là theo ngữ pháp tiếng Hán, tức định ngữ trước, trung tâm ngữ sau, ví dụ:

- 其姣 (kỳ giảo) được dịch Nôm là 所窣 (thửa tốt).

- 彼白 (bỉ bạch) được dịch Nôm là (kia trắng).

1.7. Đại từ + Động từ

Trong dạng kết cấu này định ngữ là đại từ, trung tâm ngữ là động từ hoạt dụng thành danh từ. Cũng giống như kiểu kết cấu đại từ + danh từ, cách chuyển dịch từ Hán sang Việt là theo ngữ pháp tiếng Hán, tức định ngữ trước, trung tâm ngữ sau, ví dụ:

- 其知 (kỳ tri) được dịch Nôm 所几別 (thửa kẻ biết).

2. Nhóm có công cụ từ "chi"

Nhóm này có kết cấu tương đối phức tạp, mô hình kết cấu chung là định ngữ + chi + trung tâm ngữ. Xét về phương diện từ loại đảm đương chức năng, ta có các kiểu kết cấu sau:

2.1. Danh từ + Chi + Động từ

Trong kiểu kết cấu này định ngữ là danh từ. Trung tâm ngữ là do động từ hoạt dụng thành danh từ. Ở đây khi chuyển dịch thì được dịch theo cấu trúc ngữ pháp tiếng Hán, ví dụ:

- 雨露之養 (vũ lộ chi dưỡng) được dịch Nôm là 湄沐蒸潤 (mưa móc chưng nhuần).

Trong các ví dụ trên thì trung tâm ngữ là động từ đã được danh hóa, định ngữ danh từ là đối tượng tác động của động từ. Ở đây khi chuyển dịch thì dịch định ngữ trước, sau đến trợ từ kết cấu “chi” rồi đến trung tâm ngữ.

2.2. Danh từ / Ngữ danh từ + Chi + Hình dung từ

Trong loại kết cấu này định ngữ là danh từ, ngữ danh từ. Trung tâm ngữ là hình dung từ hoạt dụng thành danh từ. Ở kiểu kết cấu này, khi dịch sang tiếng Việt thì được dịch theo cấu trúc ngữ pháp tiếng Hán, định ngữ trước, rồi đến trợ từ kết cấu “chi”, sau cùng là trung tâm ngữ, ví dụ:

- 白馬之白(bạch mã chi bạch) được dịch Nôm là 些 浪 蒸 (ngựa trắng ta rằng chưng trắng).

2.3. Danh từ/ Ngữ danh từ + Chi + Danh từ/ Ngữ danh từ

Trong dạng kết cấu này định ngữ là danh từ, ngữ danh từ, trung tâm ngữ là danh từ, ngữ danh từ. Kiểu kết cấu này được sử dụng rất phổ biến trong Hán văn. Trong thiên Cáo tử, theo thống kê dạng kết cấu này có có tới 127 lần xuất hiện, chiếm tỉ lệ áp đảo trong kiểu kết cấu có trợ từ kết cấu”chi”. Khi được chuyển dịch nó cũng được dịch theo hai kiểu là theo ngữ pháp tiếng Việt, ví dụ:

- 天下之人 (thiên hạ chi nhân) được dịch Nôm là 蒸㝵天下 (chưng người thiên hạ).

Và theo ngữ pháp tiếng Hán, ví dụ:

- 我口之所耆 (ngã khẩu chi sở thị) được dịch Nôm là 𠱄些蒸所好 (miệng ta chưng thửa hiếu).

Trong dạng kết cấu này có thể thấy đối với trung tâm ngữ là danh từ, ngữ danh từ (ngữ danh từ theo kiểu là một kết cấu định - trung) thì cách dịch là theo ngữ pháp tiếng Việt, trung tâm ngữ trước, định ngữ sau. Còn đối với trung tâm ngữ là ngữ danh từ được sở , giả danh từ hóa trở thành một ngữ danh từ thì cách dịch là theo ngữ pháp tiếng Hán, tức định ngữ trước, trung tâm ngữ sau.

2.4. Cụm động tân + Chi + Danh từ

Trong kiểu kết cấu này, định ngữ là cụm động tân, trung tâm ngữ là danh từ. Khi chuyển dịch thì được dịch theo ngữ pháp tiếng Việt, tức trung tâm ngữ trước, định ngữ sau, ví dụ:

- 行道之人 (hành đạo chi nhân) được dịch Nôm là 蒸 㝵多 去 (chưng người đi đường).

Nhận xét cách dịch cấu trúc định - trung trong thiên Cáo tử

Theo thống kê thì thiên Cáo tử có tới 405 lần (trong tổng số 737 phiến đoạn) cấu trúc định trung xuất hiện, trong đó kiểu kết cấu không dạng thức hóa có 245 lần xuất hiện, kiểu kết cấu dạng thức hóa (bằng trợ từ “chi”) có 160 lần. Trong các dạng kết cấu này định ngữ và trung tâm ngữ rất phong phú và đa dạng về thể loại, định ngữ có thể là động từ, ngữ động từ, danh từ, ngữ danh từ, số từ, đại từ, hình dung từ... Trung tâm ngữ có thể là danh từ, ngữ danh, động từ, ngữ động từ, hình dung từ.

Khi chuyển dịch sang tiếng Việt thì được chuyển dịch theo 2 cách là ngữ pháp tiếng Việt và ngữ pháp tiếng Hán... Cách chuyển dịch trong từng dạng kết cấu cũng rất linh hoạt, có khi trong một kiểu kết cấu thì có thể có nhiều cách dịch (vừa theo ngữ pháp tiếng Việt lại vừa theo ngữ pháp tiếng Hán) như kiểu kết cấu đại từ + danh từ, số từ + danh từ..., hoặc cũng có khi trong toàn bộ kiểu kết cấu chỉ dịch duy nhất theo một cách là ngữ pháp tiếng Việt như kiểu kết cấu danh từ + danh từ, động từ + danh từ...

So với cách dịch theo ngữ pháp tiếng Việt thì dịch theo ngữ pháp tiếng Hán chiếm số lần lớn hơn, với 223 lần. Đây là điều khá lạ khi mà Mạnh Tử ước giải là một tác phẩm được dịch từ tiếng Hán ra tiếng Việt, của người Việt, dành cho người Việt. Cách dịch ra tiếng Việt theo ngữ pháp tiếng Hán của người dịch có thể là bị ảnh hưởng do tiếp xúc với chữ Hán trong một thời gian dài, hay cũng có khi việc dịch như thế vì các kết cấu ấy vừa là một cấu trúc định - trung lại vừa là một ngữ cố định quen thuộc nên không cần phải dịch, hay cũng có khi việc dịch như vậy là để phù hợp với cách nói của người Việt. Điều đặc biệt hơn nữa là trong dạng thức hóa khi dịch kết cấu định - trung thì trợ từ kết cấu chi luôn được dịch bằng một hư từ Nôm là chưng , mặc dù trong tiếng Việt là không cần, nó càng cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của ngữ pháp tiếng Hán đối với bản dịch Nôm này. 


Chú thích
:

(1). Lê Qúy Đôn 黎貴惇 (1726 -1784) tự Doãn Hậu 允厚, hiệu Quế Đường 桂堂, người xã Diên Hà phủ Tiên Hưng trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc xã Độc Lập huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), ông đỗ Tiến sĩ năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752). Ông là người thông minh, học rộng hiểu sâu, tác giả của nhiều bộ sách như: Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Đại Việt thông sử, Bắc sứ thông lục….

(2). Hoàng Thị Hồng Cẩm, Tân biên truyền kỳ mạn lục: Nghiên cứu văn bản và vấn đề dịch Nôm, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1999, tr 146.

(3). Trần Văn Chánh, Ngữ pháp Hán ngữ cổ và hiện đại, Nxb. Trẻ Tp Hồ Chí Minh, 2005, tr 286.

Tài liệu tham khảo:

1.Đinh Trọng Thanh, Giáo trình ngữ pháp Hán ngữ cổ đại, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

2.Hoàng Thị Hồng Cẩm, Tân biên truyền kỳ mạn lục: Nghiên cứu văn bản và dịch Nôm, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1999.

3.Nguyễn Tuấn Cường, Nghiên cứu về Tứ thư ước giải (lược tả văn bản và giải đọc bài Tựa của Lê Quý Đôn), in trong: Tạp chí Hán Nôm, số 6 (103) năm 2010, tr. 37-49.

4.Nguyễn Quang Hồng, Chuyển dịch từ ngữ song tiết Hán văn sang từ ngữ văn Nôm trong bản giải âm "Truyền kì mạn lục", Hội thảo quốc tế ngôn ngữ học liên Á lần VI (11 - 2004).

5.Nguyễn Nam, Phiên dịch học lịch sử văn hóa: trường hợp Truyền kì mạn lục. Nxb. Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2002.

6.Trần Văn Chánh, Ngữ pháp Hán ngữ cổ và hiện đại, Nxb. Trẻ Tp Hồ Chí Minh, 2005

7.Viện nghiên cứu Hán Nôm, Dịch từ Hán sang Việt: một khoa học, một nghệ thuật, Nxb. Khoa học Xã hội, 1982.

8.杨伯峻,文言语法,北京出本社1962.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.703-712)

 

Trương Văn Thắng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm