89. Về bài Nam dược chỉ danh truyền (TBHNH 2009)
VỀ BÀI NAM DƯỢC CHỈ DANH TRUYỀN
NGUYỄN THỊ TRANG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chủ trương “Người nước Nam dùng thuốc nước Nam” của danh y Tuệ Tĩnh được bao thế hệ lương y Việt Nam tán thưởng. Muốn sử dụng tốt các cây thuốc Việt Nam thì việc đầu tiên là nhận biết chính xác về tên goi, công dụng của từng loại thuốc đó, vì thế mà nhiều vị danh y đã dụng công giải thích rõ từng loại, thậm chí còn diễn thành ca lục bát cho dễ thuộc dễ nhớ. Hiện trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được hàng chục cuốn sách như thế, trong đó có bài Nam dược chỉ danh truyền, ký hiệu VNv231, viết theo lối ca lục bát gồm 180 câu, giới thiệu trên 100 loại thuốc quý. Sách không thấy ghi tên tác giả và niên đại biên soạn, song dựa vào ngôn từ sử dụng trong bài, chúng tôi đoán định tác phẩm này ra đời vào khoảng thế kỷ 18, bởi lẽ có một số từ chỉ thấy xuất hiện trong các văn bản Nôm thời kỳ đó, như Việt sử diễn âm, Thiên Nam ngữ lục, Thiên Nam minh giám. Chẳng hạn như từ: Ca với nghĩa là ở, ở tại, thấy xuất hiện 2 trường hợp:
Độc lực quất hôi bày tên
Ấy là cây giống chưa quen ca lòng (câu 54)
Ô tử cây du ông già
Ô lão quả ké ở ca trên đầu (câu 60)
Hoặc giả như từ đã, có nghĩa là khỏi bệnh. Như câu ngạn ngữ: “Thuốc đắng đã tật, sự thật mất lòng” cũng thấy xuất hiện trong bài này.
Tá, sứ tính có độc nhiều
Chẳng khả hết liều tật đã thời thôi (câu 12)
Ngoài ra còn nhiều từ cổ khác như: Tích ninh, No nao, Một dường, chỉ thấy xuất hiện trong tập thơ Nôm cổ như: Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi, Khâm định Thăng bình bách vịnh...
Bởi những lẽ phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng đây là một tư liệu quý nên phiên âm chú giải đầy đủ để giới thiệu trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2009 này.
Toàn văn như sau:
Ngồi buồn luận chế thảo mộc,
Chỉ nam hiệu rằng biết mọi mùi cây.
Ai ai đọc lấy cho hay,
Phòng khi hái thuốc ngày mai trợ người.
Ba trăm tượng ứng trên trời,
Sáu mươi trăm giống học đòi có thiên.
Quân(1) thì dưỡng tính ứng thiên,
Uống phải tươi tốt tự nhiên nhuận hòa.
Thần(2) thì dưỡng tính người ta,
Uống lâu lại đã khí hòa tam tiêu.
Tá sứ(3) tính có độc nhiều,
Chẳng khả hết liều tật đã(4) thời thôi.
Ứng địa đã hợp tam tài(5),
Tứ thời hái dược biết hay quân thần.
Xuân hoa hạ diệp đông căn(6),
Mùa đông lấy quả xuân thì hái hoa.
Biết hay ngũ vị hợp hòa,
Cam hàm đạm khổ(7) tân toan(8) ngũ hành.
Biết hay tương khắc tương sinh,
Ô uế tương hình mà được biết nhau.
Lân giáp(9) là liền vũ mao(10),
Chủ can(11) phép mộc thuộc vào đông phương.
Chủ phế(12) vân mẫu là dường,
Tây phương phép bạch tính hằng thuộc kim.
Từ thạch là đá nam châm,
Tính hay kỵ hỏa điểm lâm một dường.
Chủ thận(13) thuộc ở bắc phương,
Huỳnh hoàng phép thổ trung ương chủ tỳ(14).
Biết hay mọi nỗi nhiều bề,
Hậu phác thực thời là vỏ cối kê.
Mở sách mà luận một khi,
Ấy bạch long bì là bổ cho miên.
Độc lực quất hôi bầy tên,
Ấy là cây giống chưa quen ca(15) lòng
Ngô đồng hiệu là cây bông,
Mộc quí hiệu viết là cây bồ hòn
Đơn ma là cây dầu dầu,
Này là chi tử thực âu quả dành
Hoàng bá cho biết tính danh
Là cây nuc nác nhất danh miễn điều.
Cây sơn tiều sơn chẳng hèo,
Phấn mễ ấy thực chẳng yêu đã dùng.
Ba đậu là màn để song,
Nhất danh phong mã cho thông mọi mùi.
Quất xú là cây quất hôi,
Biết hay mộc bộ mọi loài tích ninh(16).
Chỉ thực là quả gấc xanh,
Chín là chỉ xác cùng cành sinh ra.
Cát bối là cây bưởi bung,
Lệ chi quả vải khác dòng lạ sao?
Vỏ vải là cây cam hào,
Ma mộc lâm nào hiệu là rễ vang.
Vỏ chanh là cứu lệ đằng.
Xuyên châu là quả trên rừng no nao(17).
Phúc bì là vỏ quả cau.
Tông lô quả móc ăn trầu đỏ môi.
Quỳnh ác hiệu là cây roi,
Ô mai hiệu viết quả mơ cực tròn.
Ô mộc hiệu là quả chồn.
Hắc đàn chằng khác cùng con một nhà.
Ô tử cây du ông già.
Ô lão quả ké để ca trên đầu.
Nhất danh thương nhĩ cực mầu(18).
Nhị danh cát khởi chẳng âu làm gì.
Ngũ liên quả khế chua ghê.
Này ngũ gia bì là vỏ chân chim.
Ngũ vị là là quả nắm cơm.
Ngũ bội bầu bí thuốc làm nhuộm răng.
Thanh dương hiệu là quả găng.
Bạch dương hiệu viết cành bồ câu mọc.
Mộc miết là hạt táo khô.
Nhất danh tục viết hiệu là Bồ nan.
Thiên đông hiệu cây ngi lăng.
Mộc thông hiệu viết là cây ruột gà.
Mộc quí hiệu cây xương bồ,
Diện nhân tổn bệnh chẳng yêu chi là.
Kim đẩu hiệu viết cây cà,
Có khi kim trảm là hoa ngọ thì(19).
Vỏ sắn là tử niêm bì,
Hoàng oanh vỏ chuối hoàng bì vỏ dưa dưa.
Khổ long là vỏ ruột này,
Khổ tham diện bệnh ngày rày một cây.
Nhắn cho xem biết thuở này.
Kiều mộc hiệu viết là cây hương bầu.
Khổ đằng là cây xoan đâu.
Này cây Cương tử thực nay quả dày.
Bảng căn hiệu viết rễ cây.
Lá thay Thị đế là tai quả hồng.
Ưu vân là vỏ cây sung.
Khổ tất như đằng là hạt màng tang.
Dã du là cây bưởi rừng,
Cây dâu tục viết là tang bạch bì.
Lạ thay có hiệu chỉn ghê,
Bạch đằng cùng thời là dựa cây thông.
Phục linh định phách trừ hung(20).
Phục thần hổ phách cùng dòng sinh ra.
Dung đào là là dựa cây đa,
Già giới là cà cho biết tính ninh.
Thanh bì là vỏ quất xanh,
Trần bì là vỏ cũng cành cùng nhau.
Thổ qua hiệu viết quả bầu.
Đông qua quả bí để lâu trại ngày.
Khổ qua là quả mướp này,
Ti qua chẳng khác cùng cây một dòng.
Thử qua dưa chuột êm lòng,
Thổ qua bầu đất người hằng nấu ăn.
Bọt nước là cây rau cần,
Có cây Cúc bạch là tuyền phúc hoa.
Tô lợi là cây mồng tơi,
Lam thực thuở này là cây đinh lăng.
Hoạt lộc là cây xương rồng.
Ô khô văn nhĩ hiệu là quả sâm.
Đăng nhụy hiệu viết bấc đèn.
Cố chỉ bìm bìm là mực khiên ngưu.
Trúc lịch là tre hoa xanh.
Nóng vào phải lửa doành đoành sôi ra.
Biển xúc là cây thài lài,
Cát tráng rau bén lòng ra tư bề...
Chú giải:
1.2.3. Quân, thần, tá, sứ: trong y học phương Đông, người ta căn cứ vào tác dụng của các vị thuốc mà phân chia ra loại quân, thần là thuốc chữa bệnh chính, còn tá, sứ là vị thuốc phụ giúp thêm.
4. Tật đã: khỏi bệnh.
5. Tam tài: ba yếu tố quan trọng trong vũ trụ là Thiên (Thời), Địa (Đất) và Nhân (con Người).
6. Ý cả câu nói: mùa xuân dùng hoa, mùa hè dùng lá, mùa đông dùng rễ của loại cây thuốc đó.
7. Cam hàm đạm khổ: bốn vị ngọt, mặn, nhạt, đắng.
8. Tân toan: chua cay.
9. Lân giáp: loài vỏ vẩy và vỏ cứng.
10. Vũ mao: lông vũ và lông mao.
11. Chủ can: chủ trị bệnh gan.
12: Chủ phế: chủ trị bệnh phổi.
13. Chủ thận: chủ trị bệnh thận.
14. Chủ tỳ: chủ trị bệnh tỳ.
15. Ca: ở.
16: Tích ninh: đầy đủ, chắc chắn.
17: No nao: khi nào.
18: Cực mầu: rất tốt.
19: Ngọ thì: giờ Ngọ, tức 12 giờ trưa.
20. Trừ hung: trừ bỏ tai hung.
(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.987-993)