9. Bia ma nhai "Câu thủy bi ký" ở huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (TBHNH 2001)
BIA MA NHAI "CÂU THUỶ BI KÍ" Ở HUYỆN HOÀ AN,
TỈNH CAO BẰNG
Viện Khảo cổ học
Tháng 4 năm 2001, trong thời gian công tác tại xã Bình Long, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng, chúng tôi đã phát hiện được một bia ma nhai viết bằng chữ Hán được khắc trên vách đá dãy núi Phia Tém.
I. Mô tả:
Bia được khắc trên vách núi ở độ cao khoảng 3m so với chân núi, nằm sát bờ trái sông Sam Luồng (còn gọi là sông Dẻ Rào một nhánh sông Bằng Giang), cao hơn mặt nước sông khoảng 10 mét. Để tạo một bề mặt khá bằng phẳng thể hiện minh văn, người xưa đã đục vào vách núi một ô lõm hình chữ nhật có chiều dài 72cm x chiều rộng 56cm x sâu 5cm. Không có hoa văn trang trí.
Toàn bài có 388 chữ. Chữ chân phương dễ đọc, song có một số chữ không đọc được do chữ mờ, mất nét hay do mặt bia bị vỡ.
II. Phiên âm:
Câu thuỷ bi ký
ððð/ tiêm bi ký
Mỹ ð/ để chừng thanh bích thuỷ cộng trường thiên nhất sắc. Hà biên đột xuất thanh sơn củng vạn nhận. Thiên phong hảo thủy thế dĩ tranh kỳ mỹ, địa hình chi điệt tú. Tư bản chức hệ Thạch Lâm châu Xuất Tính tổng Truyền Khê xã Tham đốc Trụ quận công Bế ððlược kiến Động Long xứ, thượng đáo Bạch Hạc ð, hạ chí Nước Đôi, đông cận giang, nam cận trĩ đống, đoài cận Đống Đinh, bắc cận Đống ð, cảnh tứ chí nhập nội đa hữu hoang điền khoáng dã, sở tác giả vô biên. Quan địa thế chúng ngôn hưng công tiện tố.ðTân Tỵ nhị nguyệt trung khởi chí Nhâm Ngọ tam nguyệt thượng hoãn thành tu trúc thản thuỷ nhị đà thiểu trường thập bát trượng thất xích, khai cừ câu thuỷ ư giang biên trường ngũ bách thất trượng sứ thuỷ chi xung phóng nhuận nông sự dĩ phong đăng sở dĩ tiện bản chức dữ dân đồng lạc canh vân, sứ gia cấp nhân túc, vĩnh hưởng thăng bình, lưu truyền vạn thế ư vô cùng giả thị giã, cố lập bi ký. Phù bi ký giả quan chi tứ cố địa thế sơn thuỷ long hổ bàn toàn thượng hảo cố bút nhi thư chi dữ kỳ tứ thú (?) giã. Thanh long tắc thuỷ triều uyển chuyển viễn tiếp phật đường, bạch hổ tắc sơn điệp nguy nga cận quan lư hạng. Tiền chu tước tiêm giao phong vưu vưu, hậu huyền vũ đôi thổ trùng trùng thực vi thượng đẳng địa thế. Nhân trúc thản thuỷ xuyên câu vu chí vân. Chánh đội trưởng Nguyễn Văn Lượng, Thủ hậu Nông Phúc Dĩnh, Đội trưởng Nông Bá Uy, Hà Phúc Ký, Thứ đội trưởng Nông Phúc Biểu, Giáp trưởng Nông Phúc Khai dốc áp thập bát xã dân khai tác ), minh viết:
Địa hình cảo
Tiền vô khảo
Tiện sở vi
Thông thuỷ đạo
Nhuận điền canh nông sự hảo
Tiện vu dân
Chiêu hy cảo
ðð cao phụng tả
Chính Hoà nhị thập tam niên tuế tại Tân Tỵ nhị nguyệt thập ngũ nhật khởi công chí Nhâm Ngọ tam nguyệt thượng hoãn thành.
Trại Dịch (?) Bình
III. Dịch nghĩa
Bài ký ghi chép về mương nước
Nước sông trong vắt hoà cảnh sắc trời xanh, ven sông đột ngột nổi lên ngọn núi cao. Non nước quyện hoà cảnh đẹp. Bản chức là Tham đốc Trụ quận công là Bế ððxã Truyền Khê, tổng Xuất Tính, châu Thạch Lâm xem qua xứ Động Long, trên đến xứ Bạch Hạc, dưới đến xứ Nước Đôi, phía đông giáp sông, phía nam giáp gò cao, phía tây giáp Đống Đinh, phía bắc cận Đống ð, nhưng đi vào bên trong ruộng đất rất rộng nhưng bị bỏ hoang không người cấy cầy. Mọi người nói rằng nếu nơi này được cải tạo thì có thể canh tác được. Cho nên từ tháng 2 năm Tân Tỵ đến trung tuần tháng 3 năm Nhâm Ngọ, ta cho khai rộng hai lạch nước dài 18 trượng 7 thước, liền đó đào một con mương dài 507 trượng dẫn nước vào đồng ruộng, khiến cho mùa màng tươi tốt, bản chức và mọi người vui vẻ. Vui việc cấy cày, khiến cho nhà nhà, người người no đủ, đời đời được hưởng sự yên vui thăng bình, lưu truyền mãi mãi muôn đời. Vì vậy lập bia này. Bia nhìn bốn phía núi sông địa thế rồng chầu hổ cuốn, thực là đất rất tốt. Vậy nên cầm bút mà ghi lại. Lại xem bốn phía thấy: Thanh long là dòng nước uốn lượn giáp với chùa Phật phía xa. Bạch hổ là núi non trùng điệp nguy nga, thôn xóm gần kề. Chu tước phía trước là những đỉnh núi cao vút. Huyền vũ phía sau là gò đống chập trùng. Địa thế thực là cực đẹp. Vậy viết bài văn bia ghi lại sự việc khơi lạch đào mương. Chánh đội trưởng Nguyễn Văn Lượng, Thủ hậu Nông Phúc Dĩnh, Đội trưởng Nông Bá Uy, Hà Phúc Ký, Thứ đội trưởng Nông Phúc Biểu, Giáp trưởng Nông Phúc Khai cùng đôn đốc dân 18 xã khai lạch đào mương.
Có bài minh rằng:
Địa hình nơi đây
Trước không khảo được
Nay ta mở mang
Khai thông dòng nước
Tưới mát ruộng đồng
Thuận tiện canh tác
Cày cấy dễ dàng
Dân vui công việc
Yên hưởng thái bình
ððcao kính viết
Ngày 15 tháng 2 năm Tân Tỵ, niên hiệu Chính Hoà thứ 23 (năm 1702) khởi công, đến trung tuần tháng 3 năm Nhâm Ngọ (năm 1703) hoàn thành.
Trại Dịch (?) Bình.
IV. Nhận xét:
1 - Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập nên vương triều Mạc. Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều bùng nổ kéo dài gây bao đau khổ cho nhân dân. Năm 1592, Mạc rút chạy lên Cao Bằng cố thủ. Nhà Mạc lên Cao Bằng trải qua ba đời Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ cộng được 84 năm (1593 - 1677). Thành Nà Lữ là đại bản doanh của vua tôi nhà Mạc ở châu Thạch Lâm xưa (nay là xã Hoàng Tung, huyện Hoà An). Tuy ở trong cùng một vùng nhưng nhà Mạc cũng không chăm lo phát triển sản xuất, bỏ mặc nhiều khu đồng hoang dã vì thiếu nước tưới, khiến nhân dân trong vùng đói khổ. Sau khi quân đội nhà Lê đánh bại được nhà Mạc, một trong những việc làm của nhà Lê nhằm thu phục lòng dân lúc này là chăm lo phát triển sản xuất. Việc khơi lạch đào mương ở khu vực xã Bình Long ngày nay như đã được ghi rõ trong bia ma nhai nói trên đã thể hiện rõ được điều đó. Việc huy động dân 18 xã quanh vùng vào công việc thuỷ lợi này chứng tỏ uy quyền của nhà Lê đã được thiết lập lại trên vùng đất này, đồng thời cũng nói lên sự hưởng ứng của người dân nơi đây đối với chính sách khuyến nông của quan quân nhà Lê.
2 - Chúng ta có thể khai thácnhiều sử liệu quan trọng khác từ bản minh văn này như địa chí, tên gọi các chức sắc địa phương vốn là nơi cư trú của các đồng bào Tày, Nùng cổ v.v... Theo các sử sách cổ cho biết, đất Hoà An ngày nay là đất Thạch Lâm xưa. Đời Lý là châu Thái Nguyên. Đời Lê sơ là châu Thái Nguyên thuộc phủ Lạng Sơn. Cuối đời Lê Hồng Đức, châu Thái Nguyên đổi thành châu Thạch Lâm, thuộc phủ Cao Bằng, trấn Thái Nguyên. Năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) châu Thạch Lâm đổi thành huyện Thạch Lâm, tỉnh Cao Bằng... Địa danh Nước Đôi trong bài minh văn nói trên theo chúng tôi chính là thị trấn Nước Hai ngày nay...
3 - Tác giả lập bia là Trại Dịch (?) Bình, hiện vẫn chưa rõ lai lịch tác giả. Bia cũng không cho biết thời gian lập bia, nhưng dựa vào nội dung bài minh văn chúng tôi cho rằng bia được lập chỉ sau thời gian hoàn thành công trình thuỷ lợi kia chút ít.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.60-65