9. Đôi nét phác thảo lịch sử hình thành, di sản tinh thần và xu thế phát triển tương lai của nền Hán học châu Âu (TBHNH 2011)
ĐÔI NÉT PHÁC THẢO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH,
DI SẢN TINH THẦN VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN TƯƠNG LAI CỦA NỀN HÁN HỌC CHÂU ÂU
PHAN VĂN CÁC
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Nền Hán học Châu Âu đã có lịch sử trên bốn trăm năm, nhìn lại lịch sử và khái quát phác thảo những nét chính của nó là một việc không đơn giản. Dưới đây dựa vào kết quả nghiên cứu của giới Hán học nước ngoài bao gồm cả các nhà Hán học châu Âu và giới nghiên cứu ở Trung Quốc (kể cả học giới Đài Loan), chúng tôi cố gắng trình bày một số nét chính để bạn đọc tham khảo. “Hán học” nói đây tương ứng với thuật ngữ Sinology của tiếng Anh (do yếu tố Sino - có nghĩa là Trung Quốc, của người Trung Quốc, của tiếng Hán, bắt nguồn từ tiếng La tinh Sinae, tiếng Ả rập sin, tiếng Ba - tư Chini, tiếng Phạn cina[-s], tiếng Anh hiện đại China cũng vậy, về từ nguyên đại để chỉ đời Tần [221 - 206 TCN], kết hợp với yếu tố logy gốc Hi Lạp có nghĩa là “nghiên cứu”, “tìm tòi” hoặc “học thuyết” mà thành). Từ đó, Hán học chỉ môn học vấn hình thành bởi kết quả của người nước ngoài nghiên cứu các phương diện lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, văn tự v.v… của Trung Quốc, tức là nhận thức của người nước ngoài về Trung Quốc. Nói cho xác đáng hơn, Hán học là thành quả nghiên cứu của người nước ngoài dựa trên cơ sở thực tế Hán ngữ (nhất là ngôn ngữ sách vở của Trung Quốc bằng chữ Hán) để tiến hành nghiên cứu mọi bình diện của văn hóa Trung Quốc.
Thật ra, khái niệm “Hán học” trong tiếng Hán chí ít có 4 ý nghĩa sau đây:
-Do chỗ các học giả đời Hán nghiên cứu kinh sách, chủ trọng khảo cứ, cho nên đời sau gọi “Hán học” là cái học khảo cứ, cái học “huấn hỗ” (đối lập với “Tống học” là cái học nghĩa lý).
-Đời Thanh từ Càn Long - Gia Khánh (1735 - 1820) do Huệ Đống (1697 - 1758) xác lập “Hán học”, Nho gia đời Thanh nối nhau dốc sức vào việc sưu tập cổ huấn của Hán nho, vì thế “cố nghĩa” trở thành một loại hình giải thích mẫu mực biểu trưng của “Hán học”, dựa vào cựu chú của Hán nho, phân biệt với chú sớ mới của “Thập tam kinh chú sớ”, có thể nói đó là dòng chủ lưu của Kinh học đời Thanh.
-Trong thời Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, ở Đài Loan “Hán học” được coi như một trong những thái độ yêu nước với ý nghĩa cùng đọc và cùng thảo luận các tác phẩm kinh điển Trung Quốc.
-Khái niệm dùng cho bài viết này là chỉ học vấn của người nước ngoài về các phương diện lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, văn tự của Trung Quốc. Cũng gọi là Trung Quốc học.
I. VÀI NÉT LỊCH SỬ
Trước hết hãy trình bày về tính khoa học và những tiêu chuẩn học thuật của lĩnh vực học thuật được gọi là “Hán học” này trên mấy phương diện sau:
1. Đối tượng nghiên cứu;
2. Phương pháp nghiên cứu;
3. Độ tin cậy về lí tính;
4. Bình diện thuật ngữ (danh từ chuyên dùng)
5. Chỉnh thể nội dung (hệ thống) trong lĩnh vực các ngành học liên quan.
Về đối tượng nghiên cứu, có thể chia thành hai bộ phận:
1. Đối tượng thực chất (thực hiện/ đối tượng cụ thể)
2. Đối tượng hình thức (lập trường, quan điểm, giác độ hoặc góc nhìn nghiên cứu). Đối tượng thực chất của nghiên cứu Hán học là văn hóa Trung Quốc và tất cả các bình diện của nó. Bản thân đối tượng nghiên cứu này rất rộng, bao gồm tất cả các khía cạnh của đời sống dân tộc Hán (như môi trường sống, đời sống vật chất, và các mặt đời sống tinh thần như đời sống xã hội, đời sống chính trị, đời sống tâm lí, đời sống tư tưởng - nghệ thuật - đạo đức, đời sống tôn giáo tín ngưỡng). Đối tượng hình thức của Hán học được quy định bởi thái độ và quan điểm của học giả đối với vấn đề được nghiên cứu. Như vậy, chúng ta có thể có các lập trường triết học, lịch sử, xã hội học, tâm lí học. Như vậy thì Hán học có xu hướng trở thành một “khoa học giao thoa”, hiểu với nghĩa là những ngành khoa học có tính tổng hợp được phát triển nhờ liên hệ mật thiết với hai hoặc trên hai hệ thống tri thức của những lĩnh vực khác nhau và dựa vào những thành quả của chúng, như sinh vật vật lí học, sinh thái kinh tế học v.v… Sự ra đời của các khoa học giao thoa nói chung có hai tình huống: một là một số đề tài nghiên cứu lớn đề cập đến hai hoặc trên hai lĩnh vực khoa học, trong quá trình nghiên cứu, ở bộ phận kết hợp các lĩnh vực tương quan đã sản sinh ra ngành học mới; hai là vận dụng lí luận và phương pháp của một ngành khoa học để nghiên cứu những vấn đề của một lĩnh vực khác, cũng có thể hình thành một số khoa học giao thoa. Và Hán học chính là thuộc tình huống thứ hai này.(1)
Phương pháp nghiên cứu là vấn đề hạt nhân của tính khoa học hoặc tính học thuật. Hán học thuộc về lĩnh vực khoa học nhân văn, cho nên trọng điểm của Hán học truyền thống, cổ điển hay là Hán học trước kia là: tiến hành nghiên cứu lấy tri thức Trung văn thực tế làm cơ sở(2). Phạm vi Hán học này tương đối hẹp, là một thứ ngữ văn học Trung văn, vận dụng phương pháp của ngữ văn học để nghiên cứu. Nhưng Hán học với tư cách một “khoa học giao thoa” cũng vận dụng các phương pháp của ngành xã hội học, sử học, nhân loại học, chính trị học v.v… Cho nên trên góc độ phương pháp, Hán học với tư cách “nghiên cứu khu vực” (area studies) ngày càng phát triển. Ở đây có liên quan đến khái niệm Trung Quốc đương đại (Contemporary China). “Niên báo của viện Chính trị và khoa học xã hội Mỹ” (Annals of the Academy of Political and Social Science) tháng 1/1959 xuất bản đặc san về Trung Quốc “Trung Quốc đương đại và người Trung Quốc” (Contemporary China and the Chinese), đăng bài Dẫn luận của Howard L.Boorman nói rằng “Trong tình hình Trung Quốc của Đảng Cộng sản trở thành nhân tố chủ yếu của nền chính trị châu Á đương đại, và Hán học truyền thống của phương Tây lấy khoa học lịch sử và nhân văn làm chính như hiện nay, các trường đại học của Mỹ có một cơ hội độc nhất vô nhị để phát triển phương pháp nghiên cứu và phân tích các vấn đề của Trung Quốc đương đại”.
Không chỉ ở Mỹ, ngày 1/1/1959, Pháp đã thành lập “Trung tâm tư liệu về Trung Quốc đương đại” (Documentation centre on Contemporary China), người phụ trách là Jacques Guillermaz (1911 - 1998); năm 1953, ông đã sáng lập cơ quan nghiên cứu Trung Quốc đương đại, sau đó mới có Trung tâm tư liệu tương quan. Ở nước Anh, Hán học cũng có bước phát triển tương tự, nhưng trong ngành nghiên cứu Trung Quốc (Chinese Studies) có sự phân chia khá tùy tiện: Trung Quốc truyền thống (Traditional China), Trung Quốc cận đại (Modern China) và Trung Quốc đương đại (Contemporary China) trong đó Trung Quốc đương đại chỉ từ 1949 đến nay, còn Trung Quốc cận đại chỉ từ những năm 1850 đến những năm 1950 (tức là từ cuộc xung đột giữa Trung Quốc với phương Tây trong “Nha phiến chiến tranh” cho đến khi Đảng Cộng sản lên cầm quyền ở Trung Quốc), còn Trung Quốc truyền thống thì chỉ Trung Quốc từ 1850 trở về trước. Dù sao thì cách phân chia lịch sử như vậy cũng dẫn đến sự chia tách giữa Hán học (Nghiên cứu Trung Quốc truyền thống) với Trung Quốc học (nghiên cứu Trung Quốc cận đại và đương đại). Ngoài ra, chúng ta có thể thấy ý thức của người nghiên cứu có ý đánh đồng khái niệm Trung Quốc đương đại với Trung Quốc cộng sản.
Tạp chí nghiên cứu Châu Á (Journal of Asian Studies) từ năm 1964 và sau đó đã nhiều lần tiến hành thảo luận về mối quan hệ giữa nghiên cứu khu vực với tư cách học thuật với vấn đề thuật ngữ chuyên môn. Bernhard Fuehrer có bài Suy ngẫm về hiện trạng nghiên cứu Hán học ở châu Âu đăng trong Đối thoại học thuật về Trung Quốc học, Nxb. Phụ nhân Đại học, Taipei, 2004. Năm 1990, Willy Richard Berger có bài “Quan niệm và dạng thức lưu hành về Trung Quốc ở châu Âu thời đại Khải mông” (China - Bild und China - Mode im Europa der Aufklarung). Năm 1996, Andreas Pigulla có bài “Trung Quốc trong cách biên soạn sử liệu của nước Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX” (China in der deutschen Weltgeschichtsschreibung vom 18 bis zum 20. Jahrhundert). Họ nêu lên 4 giai đoạn của thời kỳ phát triển Hán học châu Âu: 1. Sự truyền bá tơ lụa; 2. Các nhà truyền giáo của Phương Tế hội thời đầu; 3. Các nhà truyền giáo của Da - tô hội và các tu hội khác; 4. Các nhà du lịch và các đại sứ.
Cuộc luận chiến này đến nay vẫn chưa kết thúc, và thật ra chẳng thể nào kết thúc được. Nói về phương pháp luận, Hán học phải nâng cao ý thức vấn đề và độ nhạy bén về phương pháp nghiên cứu. Xét theo mạch lịch sử, vì tinh thần khoa học hiện đại hoặc phương pháp nghiên cứu học thuật là từ phương Tây đến, cho nên, Hán học phải chú ý xem trong truyền thống Trung Quốc phải chăng có mô thức tư tưởng hoặc phương pháp nghiên cứu đặc biệt. Ngoài ra còn có một vấn đề cơ bản liên quan với vấn đề trên: đó là ngoài phương pháp luận học thuật hoặc khoa học phương Tây ra, liệu có sự lựa chọn nào khác? Vấn đề này cũng quan hệ mật thiết với độ tin cậy về lí tính: các thuật ngữ và danh từ chuyên môn về phương diện Hán học đại bộ phận là những từ ngữ Hán hầu như không thể nào phiên dịch chuẩn xác sang ngôn ngữ phương Tây, thí dụ như “nghĩa”, “đạo”, “tâm”. Cho nên trong dòng chảy của lịch sử Hán học, dường như ngay từ đầu đã cho rằng dùng cách phiên âm để biểu đạt là phương pháp tương đối thỏa đáng hơn.
Trên đây là những giới thuyết sơ bộ về khái niệm Hán học. Bây giờ chúng ta hãy quan sát mạch phát triển lịch sử của Hán học châu Âu. Ở châu Âu, việc nghiên cứu Hán học nói trên ý nghĩa chặt chẽ, đã có trên 400 năm lịch sử. Từ giữa thế kỷ, các giáo sĩ truyền giáo của đạo Thiên chúa, nhất là các nhà truyền giáo Da - tô hội đi về phương Đông, đã hình thành nên một cơn sốt truyền giáo. Khách quan mà nói, mặc dù hoạt động tôn giáo này gắn liền với cuộc cướp bóc và xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây đối với Trung Quốc, nhưng nó có phần khác với việc truyền giáo của Cảnh giáo đời Đường và của giáo phái La Mã Cơ đốc giáo đời Nguyên ở Trung Quốc. Sau đó, trong một quãng thời gian khá dài (1552 - 1814) các giáo sĩ truyền giáo đã chi phối việc nghiên cứu của Hán học châu Âu.
Về sự phát triển của Hán học châu Âu, có thể có những quan điểm khác nhau. Ngoài ý kiến của chính các nhà Hán học châu Âu đã nhắc qua ở trên, có thể nhắc tới quan điểm của Trương Tây Bình. Ông này cho rằng nên chia thành 3 giai đoạn phát triển: 1. Thời kỳ Hán học du kí; 2. Thời kỳ Hán học các nhà truyền giáo; 3. Thời kỳ Hán học chuyên nghiệp.(3)
Giai đoạn thứ nhất theo cách phân chia này là “thời kỳ du kí” chủ yếu là những ghi chép tai nghe mắt thấy về Trung Quốc. Như William of Rubruck (khoảng 1220-1293) trong cuốn Rubruck đông du kí đã lần đầu tiên miêu tả người Trung Quốc (“the inhabitants of Cathay”)(4) với ngôn ngữ của họ, như “Khi nói, họ dựa vào sự thở bằng mũi mà thở rất nặng” hoặc “viết chữ bằng bút lông như họa sĩ, mà trong một chữ có rất nhiều chữ cái”. Thật ra, Thiên chúa giáo của phương Tây lần đầu tiên truyền vào Trung Quốc là ở triều Nguyên (Thiết Mộc Chân của Mông Cổ dựng lên năm 1206; năm 1271 Hốt Tất Liệt định quốc hiệu là Nguyên, 1279 diệt Tống, định đô ở Đại Đô tức Bắc Kinh ngày nay). Đối với người châu Âu mà nói, nhân vật quan trọng đã gặp gỡ với người Trung Quốc ở Viễn Đông chính là Marco Polo (1257-1324) phụ thân ông là Nicoló Polo đi Trung Quốc lần thứ hai, đã dắt con đi theo(5). Nhưng có một số nhà sử học và Hán học hiện đại cho rằng Marco Polo chưa từng đi Trung Quốc, mà chỉ ghi lại những chuyện ông được nghe thuật lại(6). Nhưng dù sao, ông cũng đã nổi tiếng nhờ Marco Polo du kí, và tác phẩm của ông cũng thuộc số những ghi chép du lịch châu Á rất tỉ mỉ của người châu Âu lúc bấy giờ.
Giai đoạn thứ hai, “thời kỳ Hán học của các nhà truyền giáo” chú trọng ghi chép lại sự tìm hiểu có chiều sâu về Trung Quốc của các nhà truyền giáo cùng sứ mệnh truyền giáo của họ. Đầu thế kỷ 16, Bồ Đào Nha chiếm đóng bán đảo Mã Lai, sau đó họ đến Trung Quốc đại lục. Thánh giáo sĩ truyền giáo Da - tô hội của Thiên chúa giáo Basques là Francis Xavier (1506 - 1552) đến duyên hải Quảng Đông năm 1552. Năm 1557, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đặt chân lên đất Áo Môn, lục tục đến Trung Quốc. Tiếp đó, nhà truyền giáo Da - tô hội Italia là Michele Ruggieri (1543 - 1607) đến Áo Môn vào khoảng ngày 20/7/15 đến Áo Môn. Còn Matteo Ricci (1552 - 1610), năm 1582 từ Ấn Độ được mời đến Trung Quốc truyền giáo, đến Áo Môn ngày 7 tháng 8. Hai ông này đều tuân theo Alexandro Valignani (tên Trung Quốc là Phạm Lễ An 1538 - 1606) cho rằng các cha cố Da - tô hội vào đất Trung Quốc thì nên học tiếng và chữ Trung Quốc trước đã, bắt đầu học tập Hán ngữ và tìm hiểu phong tục tập quán Trung Quốc, và xây dựng Kinh viện Xanh Mac - tin (St.Martin House/ la casa di San Martino), trở thành ngôi trường Hán ngữ đầu tiên của các nhà truyền giáo phương Tây. Các hội sĩ của Da - tô hội và các tu hội Thiên chúa giáo sau đó như Đạo Minh hội, Phương Tế hội, Áo tư định hội, Ba Lê ngoại phương truyền giáo hội hoặc Khiển sứ hội đều học nói tiếng Hán, thậm chí nhiều người biết viết cả chữ Hán.
Giai đoạn thứ ba, “Thời kỳ Hán học chuyên nghiệp” là thời kỳ Hán học phát triển ở nhiều nước châu Âu để trở thành ngành học riêng, và có thể mệnh danh là “Hán học đại học” hoặc “Hán học khoa học/ học thuật”. Ngày 11/12/1814, Collège de France (Pháp quốc học viện) ở Paris chính thức bổ nhiệm Jean Pierre Abel Rémusat (1788 - 1832) làm giáo sư ngôn ngữ văn học Hán - Mãn - Tác - ta, đánh dấu sự ra đời của Hán học đại học châu Âu, đến nay đã có gần 200 năm lịch sử. Năm 1843, ở Paris của Pháp cũng đã thành lập “Học viện các ngôn ngữ phương Đông” (Ecole des Langues Orientales), bắt đầu dạy Hán ngữ, làm thay đổi bộ mặt của ngành nghiên cứu Hán ngữ. Bắt đầu từ nửa đầu thế kỷ XIX, ngành nghiên cứu Hán ngữ phát triển rầm rộ ở Pháp, vì thế Paris được gọi là “thủ đô của Hán học phương Tây”(7). Năm 1837, nước Nga xây dựng khoa Hán học ở trường đại học Kazan (thủ phủ của nước Cộng hòa Tartar ngày nay) sau đó chuyển đến Trường Đại học Saint Petersburg. Năm 1837, theo chủ trương của tước sĩ George Staunton, kho sách của Thư viện Robert Morisson Anh quốc được tặng cho Trường Đại học Luân Đôn (University College, London) để làm điều kiện thuyết phục nhà trường mời một giáo sư Trung văn thỉnh giảng, và The Reverend Samuel Kidd (1799 - 1843) là giáo sư đầu tiên. Nhưng người tiên phong của Hán học Luân Đôn, chính là giới Hán học ngoại quốc British, cơ sở đặt tại Bengal (Ấn Độ) và Quảng Châu (Trung Quốc).
Đầu thế kỷ XIX, ở Đức đã có cơ hội thiết lập cơ cấu nghiên cứu Hán học trong chế độ đại học. Năm 1816, trường Đại học Bon (Universität Bonn) đang chuẩn bị thành lập, thì đã có kế hoạch thiết lập vị trí giáo sư Hán học (khoa Hán học) nhưng người được mời là giáo sư Heinrich Julius Klaproth (1783 - 1835) lại từ chối để ở lại Paris. Nhưng Trường đại học Bonn vẫn được xem là Trung tâm nghiên cứu Phương Đông đầu tiên và duy nhất lúc đó ở châu Âu. Năm 1871 là lúc lập nên đế quốc Đức; năm 1887, Đức thành lập Viện nghiên cứu các ngôn ngữ phương Đông (Seminar für Orien - talische Sprachen) đặt ở Trường đại học Friedrich - Wilhelms (nay là trường đại học Hum - Bôn, Humboldt Universität), mục tiêu là cung cấp tri thức ngôn ngữ và đất nước học cho những người Đức sắp đi công tác ở Đông Á và phương Đông như các quan chức, sĩ quan, nhân viên kỹ thuật, thầy giáo, thương nhân và nhà truyền giáo v.v…, mà Trung văn ngay từ đầu được xếp là một trong các kế hoạch giảng dạy trọng điểm.
Sau đó, các quốc gia châu Âu khác cũng dần dần đặt khoa Hán học trong chế độ đại học. Đến nay, có lẽ chỉ trong Đại học của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là không có khoa Hán học. Điều này có vẻ khôi hài vì việc nghiên cứu Hán học ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là sớm nhất châu Âu.
II. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA HÁN HỌC CHÂU ÂU
Giai đoạn thứ hai “Hán học thời kỳ các nhà truyền giáo: mở đầu cho “tính hiện đại” của châu Âu trong lịch sử thế giới, đã có chí ít bốn hiện tượng văn hóa quan trọng: 1. Qua việc người châu Âu tăng cường năng lực hàng hải, họ phát hiện ra cái gọi là “Tân thế giới”, trong đó bộ phận quan trọng nhất là Trung Quốc(8). 2. Người châu Âu sáng tạo ra tư tưởng khoa học tự nhiên hiện đại bằng mô thức suy nghĩa lấy kinh nghiệm và phép quy nạp làm chính (vật lý học), nhân vật tiêu biểu là Francis Bacon người Pháp, 1561 - 1626 với tác phẩm Novum Organum (Công cụ mới, 1620). Trong một tác phẩm khác của mình, Advancement of Learning (Tiến triển của học thuật), ông đã phát huy lý luận ký hiệu học của mình, cho rằng hệ thống ký hiệu ngôn ngữ của nhân loại là kênh then chốt biểu đạt tri thức của nhân loại. Người châu Âu vì thế rất hứng thú với ý niệm ngôn ngữ nhân loại này, tức là ngôn ngữ lý tưởng có tính phổ biến nguyên thủy. Trong tình hình như vậy, ông đã miêu tả chữ Hán như sau: “Chúng ta hiểu thêm, Trung Quốc và vương quốc Levant cao xa (the high Levant) dùng văn tự thực tại (Characters real) để viết. Nói chung, văn tự ấy không biểu đạt từ hoặc chữ cái, mà trực tiếp chỉ vào sự vật hoặc khái niệm. Như thế các quốc gia hoặc vùng miền khác nhau, tuy không nghe hiểu khẩu ngữ của nhau, nhưng có thể xem hiểu văn tự của nhau, vì phạm vi tiếp thu văn tự đã vượt lên trên phạm vi khuếch triển ngôn ngữ. Cho nên họ có một khối lượng văn tự rất lớn, tôi đoán rằng số chữ của họ hẳn là cũng nhiều như số lượng từ vựng ngữ căn (radical words)”. 3. Văn nghệ phục hưng với tư cách là một cuộc vận động văn hóa phát sinh trong khoảng từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, ở cuối Trung thế kỷ phát nguyên ở Florence, sau mở rộng đến các nước châu Âu, ở đây phải đặc biệt nhấn mạnh phương diện các trước tác văn học và triết học của nó (đọc lại nguyên văn Hi Lạp). 4. Việc cải cách tôn giáo Cơ đốc (Thiên chúa giáo) tiến hành ở thế kỷ XVI - XVII, các nhân vật tiêu biểu có Martin Luther (1488 - 1546), John Calvin (1509 - 1564) và cả vua Anh Henry 8 (1491 - 1517) chia cắt Tân giáo và Cựu giáo. Bất kể là các nhà truyền giáo đã tham gia ở mức độ nào vào tinh thần hiện đại đó, nhưng họ quả đã mang lại một thế giới quan hoàn chỉnh, mà không chỉ giới hạn ở “tư tưởng tôn giáo Cơ đốc” còn bao gồm cả thiên văn học, y học và địa lý học. Đặc biệt là, qua các trước tác Trung văn của Da - tô hội cũng có thể thấy sự miêu tả hệ thống giáo dục phân loại khoa học của châu Âu. Trong các ghi chép này, các ngành khoa học khác nhau tổ thành một chỉnh thể và sắp xếp theo thứ tự. Trong hệ thống giáo dục thế kỷ XVII, cá nhân bắt đầu đi từ các học vấn cơ sở chung (artes liberales bao gồm: trivium 3 ngành học văn pháp, tu từ học và biện chứng pháp, quadrivium 4 ngành học: số học, kỉ hà học, thiên văn học và âm nhạc), tiến triển đến các học vấn khoa học tương đối cao (y học và đạo đức học) cuối cùng kết thúc bằng thần học. Thí dụ như, y học được coi là khoa học lý luận, học y học trước hết phải tiếp thu huấn luyện triết học. Trong bối cảnh như vậy, dễ hiểu rằng các nhà truyền giáo không chỉ là lớp các nhà Hán học đầu tiên, mà còn là những người đầu tiên thúc đẩy Tây học truyền sang Đông.
Đến nay có thể lược kê những thành tích nổi bật của Hán học châu Âu như sau:
Đại cương về Trung Quốc (Tratado das cousas da China) do nhà truyền giáo Đạo Minh hội Bồ Đào Nha Gaspar da Cruz (khoảng 1520 - 1570) soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha ở Evora (Bồ Đào Nha) năm 1569, là cuốn sách đầu tiên ở châu Âu “hiện đại” viết về văn hóa Trung Quốc.
Beng sim po cam (Minh tâm bảo giám) do nhà truyền giáo Đạo Minh hội Tây Ban Nha Juan Cobo (1546 - 1592) dịch ở Manila Philippin từ Trung văn đọc theo cách đọc tiếng Mân Nam ra tiếng Tây Ban Nha năm 1592. Đây là cuốn sách dịch từ Trung văn ra Tây Ban Nha văn đầu tiên ở châu Âu 9.
Ngữ pháp Hán ngữ/ Ngữ pháp tiếng Mân Nam (Arte de la lengua china) do Juan Cobo biên soạn trước năm 1592, nay đã thất truyền. Theo Matthew Y. Chen, thì Juan Cobo là người ngoại quốc đầu tiên biên soạn ngữ pháp tiếng Hán (Mân Nam). Nhưng Henning Klöter cho rằng vinh dự ấy phải thuộc về Martin de Rada (1533 - 1578) vì ông này đã soạn cuốn Arte y vocabulario de la lengua china (Ngữ pháp và từ vựng Trung văn) trước năm 1578, nhưng nay cũng đã thất truyền.
Thiên Chúa thực lục do Michele Ruggieri (1543-1607) biên soạn ở Triệu Khánh (Quảng Đông) năm 1584. Thiên Chúa thực lục/ Thiên Chúa thánh giáo thực lục, xuất bản ở Bắc Kinh năm 1630 là trước tác thần học Cơ đốc giáo đầu tiên do người phương Tây viết bằng Hán ngữ.
Dicionário Português - Chinês (Bồ - Hán từ điển), gồm khoảng 6.000 mục từ tiếng Bồ xếp theo thứ tự chữ cái Bồ. Từ điển này được cha cố Da - tô hội Pasquale d’Elia phát hiện năm 1934 trong phòng lưu trữ Da - tô hội La Mã. Có lẽ đây là cuốn từ điển Hán ngữ - ngoại ngữ đầu tiên. Matteo Ricci trong từ điển này lần đầu tiên dùng cái gọi là hệ thống phiên âm thời kỳ đầu Ricci (RES: Ricci Earlier System) không có thanh điệu, không có ký hiệu đưa hơi bật hơi. Buổi đầu, các nhà truyền giáo Da - tô hội đã phiên dịch Tứ thư, phần nhiều theo cách dịch từng chữ, bao gồm: nguyên văn Trung văn, đối chiếu Latinh văn, còn có phiên âm Trung văn.
Từ điển Trung-Tây do Matteo Ricci, Sebastian Fernandes Tchong (1562 - 1621) và Lazzaro Cattanco (1560 - 1640) biên soạn năm 1598, có ký hiệu 5 thanh điệu và 1 ký hiệu đưa hơi (gọi là hệ thống thời kỳ cuối Ricci, RLS: Ricci Later System)
Tây tự kỳ tích năm 1605 (ở Trung Quốc nay đổi tên là Minh mạt La Mã tự chú âm văn chương, Nxb Văn tự cải cách, Bắc Kinh, 1957) là bốn bài văn chú âm chữ Hán và chữ La Mã. Phương thức phiên âm quy nạp được trong cách chú âm 4 bài văn này được coi là phương thức đầu tiên trong lịch sử dùng chữ La Mã để phiên âm Hán ngữ.
Cách vật cùng lý tiện lãm (Simbolo de la Fe, en lengua y letra China) năm 1607, nguyên là Introducción del Simbolo de la Fe (Salarmancal, 1583) do nhà truyền giáo Đạo Minh hội Luis de Granada (1504 - 1588) soạn, sau đó do Tomas Mayer phiên dịch thành Trung văn ở Mannila. Đây là bộ sách đầu tiên do người châu Âu từ Tây văn dịch sang Trung văn, sớm hơn 1 năm so với cuốn Kỷ hà nguyên bản do Matteo Ricci và Từ Quang Khải phiên dịch năm 1608.
Tây Nho nhĩ mục tư soạn năm 1625, do nhà truyền giáo Nicolas Trigault (D 1577 - 1629; Da tô hội) biên soạn, do Vương Trưng xuất bản năm 1626 ở Hàng Châu. Đây là bộ tự điển đầu tiên ghi âm chữ Hán bằng chữ La Mã hoàn chỉnh (hệ thống thời kỳ cuối của Ricci), là tài liệu quan trọng để nghiên cứu tiếng “Quan hỏa” cuối đời Minh. Bộ tự điển này chia làm 3 quyển: quyển 1 Dịch dẫn thủ phả là tổng luận, quyển 2 Liệt âm vận phả là từ phiên âm tra chữ Hán, quyển 3 Liệt biên chính phả là từ chữ Hán tra phiên âm. Soạn giả cung cấp một phương án phiên âm chữ La Mã chỉ dùng 25 chữ cái (5 chữ cái mẫu âm và 20 chữ cái phụ âm) và 5 ký hiệu thanh điệu, đủ có thể phiên toàn bộ các âm tiết của tiếng “Quan hỏa” lúc bấy giờ. Cách làm này giản đơn và dễ dàng hơn nhiều so với “phiên thiết” nên được các học giả Trung Quốc âm vận học lúc bấy giờ rất chú ý và thích thú. Có học giả được gợi ý từ đó mà nảy sinh ý tưởng văn tự Trung Quốc có thể phiên âm hóa. Tác phẩm này là một tài liệu quan trọng của “Quan hỏa” cuối đời Minh. Trước đây có học giả chủ trương rằng ngữ âm phản ánh trong Tây nho nhĩ mục tư là phương ngữ Sơn Tây hoặc Tây Bắc, nhưng theo sự ghi chép của các nhà truyền giáo Thiên Chúa giáo lúc bấy giờ về ngôn ngữ Trung Quốc thì chắc chắn rằng phương ngữ cơ sở của nó là tiếng “Quan hỏa” thông dụng trong toàn quốc, không nghi ngờ gì.
Tự điển chữ Hán với giải thích bằng tiếng Tây Ban Nha (Vocabulario de Letra China con la Explication castellana) năm 1640, do hội viên Đạo Minh hội Tây Ban Nha Francisco Díaz (1602 - 1669) soạn, bao gồm 7.169 chữ Hán, sắp xếp theo trật tự chữ cái của phát âm Hán ngữ, phiên âm La Mã theo hệ thống của Nicolas Trigault có sửa chữa, có quan hệ trực tiếp với bản của N. Trigault.
Grammatica Sinica (Trung Quốc văn pháp) năm 1653, do Martino Martini (1614 - 1661) soạn, tác giả chưa xuất bản. (Martino Martini toàn tập sẽ do GS Franco Demarchi của Đại học Trento biên tập xuất bản, trong đó có Grammatica Sinica)
Trong khoảng 1667 - 1670, Athanasius Kircher (1602 - 1680) đã xuất bản bộ China monumentis: qua sacris qua profanis, nec non variis naturae & artis spectaculis, aliarumque reurum memorabilium argumentis illustrata (Trung Quốc đồ thuyết, năm 1667 đã xuất bản ở Amsterdam Hà Lan, thuyết minh Trung Quốc bằng tranh vẽ). Trong đó, ông viết người Trung Quốc là đời sau của họ Hàm đề cập trong Kinh Thánh, còn chữ Hán là văn tự biến thể của thể Thánh Thư truyền đến châu Á. Quan điểm này đã được ông nêu trong Edipus Egyptiacus (Ơ đi pus Ai Cập). Ông xếp chữ Hán dưới thể Thánh thư vì ông cho rằng mỗi chữ Hán đại biểu cho một ý nghĩa đặc thù, mà ký hiệu của thể Thánh thư đại biểu một tư tưởng vừa thần bí vừa phức tạp. Cuốn sách latinh này năm 1668 dịch ra chữ Hà Lan; bản tóm tắt bằng Anh văn ra đời năm 1669 và đến năm 1670 xuất bản bản Pháp văn. Điểm đặc sắc chủ yếu của sách này là ở 2 bản Phụ lục: Phụ lục 1 là đáp án tỉ mỉ của Johann Grueber (1623-1680) cho Taskani đại công về các vấn đề Trung Quốc; Phụ lục 2 là một từ điển Hán Pháp dày hơn 40 trang (tr.324-367). Đây là cuốn từ điển Hán - Pháp đầu tiên xuất bản ở châu Âu(10). Nó bao gồm 2100 mục từ ngữ Hán xếp theo thứ tự chữ cái latinh, từ ça đến xun, không kèm theo chữ Hán, như mục Gin (tiếng phổ thông ngày nay là ren2) dịch thành homme (người) và piété (nhân) kỳ thực là 2 từ khác nhau.
Năm 1687, giáo sĩ Da tô hội nước Bỉ Philippe Couplet (1623-1693) chủ biên cuốn Confucius, Sinarum Philosophus, sive Scientia Sinensis (Triết gia Trung Quốc Khổng Phu tử, hoặc tri thức Trung Quốc), 1687, phiên dịch Tứ thư không có Mạnh Tử.
Năm 1703, cuốn Arte de la Lengua Mandarina (Ngữ pháp tiếng "Quan hỏa") do Francisco Varo (1627-1687) biên soạn, được xuất bản tại Quảng Châu là cuốn ngữ pháp Hán ngữ đầu tiên của châu Âu, một trước tác quan trọng trong lịch sử nghiên cứu Hán ngữ của phương Tây.
Năm 1728, cuốn Notitia Linguae Sinicae (Hán ngữ trát ký) do nhà truyền giáo Da tô hội Joseph Henri De Prémare (1666-1736) soạn. Ý tưởng biên soạn của tác giả rất mới mẻ. Ông cho rằng học tập Trung văn, không nên rập khuôn theo lý luận và phương pháp của ngữ pháp Latinh, mà nên học tập qua thực tiễn.
Tổng quát các thành tích nói trên, chúng ta có thể thấy cống hiến của các nhà truyền giáo chí ít có 3 phương diện:
Trước năm 1898(11), không có bất cứ một cuốn sách ngữ pháp Hán ngữ nào do người Trung Quốc viết, nhưng từ cuối thế kỷ XVI, đã có không ít nhà truyền giáo châu Âu đã bắt đầu biên soạn sách ngữ pháp Trung văn. Thật ra các tác phẩm này nghiên cứu chưa triệt để.
Xây dựng ngành học Hán ngữ với tư cách là ngôn ngữ thứ hai như chúng ta thường nói: các nhà truyền giáo thời Minh Thanh với sứ mệnh truyền giáo mạnh mẽ đã chủ động học tập và nghiên cứu tiếng Hán và đã biên soạn các sách học ngữ pháp và giáo trình Hán ngữ cho các nhà truyền giáo tương lai, dấy lên một “cơn sốt Hán ngữ”.
Học tập và nghiên cứu tiếng Hán là cơ sở của Hán học, như thế mới có thể tiếp tục xây dựng lâu đài Hán học.
Và thời kỳ “Hán học chuyên nghiệp/ chế độ đại học” thì bắt đầu với một số công trình cá nhân. Tương đối nổi tiếng có lẽ là cuốn từ điển của Chrétien Louis Joseph de Guignes (1759-1845) xuất bản năm 1813 với danh nghĩa cá nhân ông Dictionnaire chinois, français et latin, J. de Guignes (Pháp. Latinh - Trung từ điển, Paris 1813). Nhưng nội dung phần nhiều là sao chép từ bản viết tay của Basilio Brollo da Gesnova (1648-1704) cất giữ tại Thư viện Vatican. Việc sao chép này về sau bị Abel Rèmusat và J.Klaproth phát hiện. Sớm hơn một ít thì có vụ cuốn Grammatica Duplex của Etienne Fourmont (1683-1745) năm 1742 bị Abel Rèmusat phát hiện là quá dựa vào Arte de la Lengua Mandarina của Francisco Varo.
Vì thế kỷ XIX Hán học châu Âu phát triển rất nhanh nên khó mà liệt kê được các thành tích như giai đoạn trước. Có lẽ đặc điểm quan trọng nhất là đã không còn lấy truyền thống Nho gia làm đối tượng nghiên cứu trọng yếu nhất nữa, mà đã bao quát các truyền thống văn hóa khác của Trung Quốc, như Đạo gia và Phật giáo. Ngoài ra, Hán học châu Âu thế kỷ 19 còn có một số nét đặc sắc sau đây:
1. Vì thiếu các thư tịch và tài liệu chuyên ngành bằng Trung văn, cho nên dựa chính vào các trước tác kiểu bách khoa toàn thư Trung Quốc, như Văn hiến thông khảo năm 1317 (Mã Đoan Lâm soạn khoảng giao thời Tống Nguyên, gồm 348 quyển, ghi chép diên cách chế độ điển chương từ Thượng cổ đến thời Tống Ninh Tông).
2. Công việc phiên dịch là trọng điểm của nghiên cứu Hán học, như việc phiên dịch kinh điển Nho gia của James Legge (1815-1897) và công việc phiên dịch của F.S. Couvreur ở Da tô hội Pháp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu dần dần vượt ra ngoài Nho học mà đi tới các truyền thống khác, như Đạo gia, Đạo giáo, tín ngưỡng dân gian hoặc văn học. (John Davis, Poesis sinicae commentarii, “Hán văn thi giải”, năm 1834), tư liệu hí kịch v.v…
4. Viết sách công cụ: như về ngữ pháp (Georg von der Gabblentz 1840-1893, Chinesische Grammatik, “Hán văn kinh vĩ”, 1881); về từ điển (F.S.Couvreur Trung Quốc văn ngôn văn từ từ điển, 1898); về các phương diện khác như W.P. Mayers, The Chinese Reader’s Manual “Sổ tay người đọc Hán văn”, 1874); H.A. Giles (1845 - 1935), A Chinese Biographical Dictionary, “Danh nhân từ điển”, 1898 v.v…
Phát hiện lớn nhất của Hán học châu Âu thế kỷ 19 là những điểm giống nhau giữa Hán ngữ với Tạng ngữ và Miến Điện ngữ (đều thuộc ngữ hệ Hán Tạng). Cống hiến về phương diện này thuộc về B.H. Hodgson người Anh (1800-1894), nhà ngữ văn học Đức Erust Kuhn (1846-1920) và nhà Hán học Đức August Conrady (1864-1925). Hán học châu Âu thế kỷ 19 đã sáng lập tập san định kỳ có tính chất học thuật đầu tiên, tờ Thông báo (T’oung Pao, 1890) là tập san Hán học của Pháp và Hà Lan.
Hán học châu Âu thế kỷ 20 trở thành một lĩnh vực học thuật độc lập và hoàn chỉnh. Nét đặc sắc của nó là:
1. Hán học hấp thu phương pháp phê phán trong khoa học nhân văn đương đại (nhất là về phương diện xã hội học và dân tộc học), như các học giả Pháp Edouard Chavannes (1885-1978), Paul Pelliot (1878-1945) và Marcel Granet (1884-1940) hoặc August Conrady; xu hướng nghiên cứu này đã coi Hán học là một môn “khoa học giao thoa”, tức là quan hệ sức căng giữa nghiên cứu khu vực với ngành khoa học chuyên ngành (như xã hội học).
2. Tăng cường nghiên cứu lịch sử Hán ngữ: được sự giúp đỡ của ngữ âm học hiện đại và âm vận học, người ta bắt đầu nghiên cứu ngữ thanh Hán ngữ và mạch phát triển lịch sử của nó, như Bernhard Karlgren (1889-1978) và Henri Maspero (1883-1945). Maspero đã dùng phương pháp ngôn ngữ lịch sử dùng sự sai khác về ngữ pháp, nhất là quan hệ giữa phương ngữ với địa vực để xác định tác giả Tả truyện không phải là người Tề Lỗ.
3. Mở đầu việc nghiên cứu Giáp cốt văn và kim văn. Giáp cốt văn được phát hiện ở Hà Nam năm 1898 cùng với việc nhận biết và giải mã nó đã giúp rất nhiều cho việc tìm hiểu lịch sử nhà Thương ở Trung Quốc. Về phương diện này, các học giả châu Âu đã kế thừa các học giả Trung Quốc, như Tôn Di Nhượng (1848 - 1908, nhà kinh học, văn tự học đời Thanh), Vương Quốc Duy (1877 - 1927, học giả Trung Quốc bắt đầu từ 1913 dốc sức khảo thích giáp cốt văn, kim văn và thẻ tre Hán Tấn), La Chấn Ngọc (1866 - 1940, nhà kim thạch học Trung Quốc), Đổng Tác Tân (1895 - 1963, nhà giáp cốt học Trung Quốc)… đã mở ra một phạm vi nghiên cứu đặc thù trong Hán học - Cổ văn tự học (nội hàm của nó rất gần với nghiên cứu văn tự tượng hình trong Ai Cập học).
4. Việc phát hiện các bản thảo viết tay ở Trung Á, như biến văn Phật giáo Đôn Hoàng (bao gồm cả Trung văn Bạch thoại đời Đường) đòi hỏi nhà Hán học nắm được nhiều thứ ngôn ngữ rất khó đọc hiểu (nghiên cứu Hán học loại này rất giống như trong học tập ngôn ngữ học cổ điển, nghiên cứu các văn cảo viết trên sa thảo).
5. Tiến hành nghiên cứu có tính chất phê phán trên cơ sở sử liệu như Otto Franke (1863 - 1946).
6. Ngoài Pháp và Đức, các nước châu Âu khác như Hà Lan và Anh cũng thúc đẩy và mở rộng Hán học.
7. Các tập san định kỳ có tính học thuật về Hán học cũng phát triển mạnh: tiếng Pháp có Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême Orient “Học báo của Viễn Đông học viện Pháp”, Hà Nội - Việt Nam, 1901; Bulletin ò the Museum of Eastern Antiquities “Tập san của Viện Bảo tàng văn vật cổ đại Viễn Đông”, Thụy Điển, 1929; Monumenta Serica, Journal of Oriental Studies “Hoa duệ tạp chí”, Bắc Kinh, 1935; tạp chí do nước Đức xuất bản Asia Major, “Đại Á châu”, 1923; Ostasiatische Zeitschrift “Đông Á kỳ san”, 1924; Sinica, “Trung Quốc nghiên cứu kỳ san”, 1925.
Từ thập kỷ 1930 đến nay, Hán học hoặc Trung Quốc học Mỹ có sự thách thức lớn đối với Hán học châu Âu vốn luôn chiếm ưu thế cho đến lúc bấy giờ. Nhất là từ sau Đại chiến Thế giới thứ hai, ở Mỹ bắt đầu xuất hiện trong Hán học xu hướng phản đối nghiên cứu học thuật thuần túy. Xu hướng nghiên cứu này bắt đầu từ “Nghiên cứu địch tình” (bao gồm cả việc nghiên cứu Nhật Bản, Liên Xô cũ, Trung Quốc, Hàn Quốc). Riêng về Trung Quốc học, lúc bấy giờ có cả một lớp người như Benjamin Schwartz (1916-1999) và thầy dạy của ông ta là John Fairbank (1907-1991), đã cố gắng hết sức để chuyển hướng Hán học sang nghiên cứu Trung Quốc hiện đại, và việc nghiên cứu của họ chí ít có 3 nét đặc biệt:
1. Khiến cho nghiên cứu Trung Quốc trở thành một lĩnh vực khoa học liên quan với hiện thực.
2. Phương hướng nghiên cứu là từ Trung Quốc đương đại tới hiện đại, từ hiện đại đi vào triều Thanh, cứ thế mà đi ngược dần lên.
3. Kinh phí nghiên cứu do dự toán ngân sách quốc phòng Mỹ cung cấp.
III. HIỆN TRẠNG CỦA HÁN HỌC CHÂU ÂU
Ngoài xu thế phát triển thành “nghiên cứu khu vực” như đã trình bày ở trên, Hán học châu Âu hiện đại cũng đã xuất hiện sự chuyển di phong khí học thuật khiến cho việc nghiên cứu văn hóa Trung Quốc truyền thống, ngữ văn học Trung Quốc, triết học và văn học Trung Quốc bị coi là đã đi qua và không còn sức hấp dẫn. Ở trên, chúng ta đã nhắc đến mô thức nghiên cứu Trung Quốc của Mỹ, tức là từ hiện trạng đi lần từng nấc lên quá khứ. Nhưng mô thức này cũng có hạn độ của nó, thí dụ như một người nghiên cứu nào đó suốt đời mình cũng không thể lên đến giai đoạn lịch sử quá xa xưa. Dùng phương thức hợp tác đoàn đội xử lý nhiệm vụ này có thể sẽ dễ dàng hơn, người ta gọi đó là con đường nghiên cứu kiểu “bóc hành tây”.
Một hiện tượng đặc thù nữa là chú trọng “tính lịch sử” của nghiên cứu Hán học. Lịch sử Hán học các nước châu Âu đã có nhiều luận văn hoặc sách chuyên khảo ghi chép. Về sức ảnh hưởng của Hán học Mỹ đối với Hán học châu Âu và việc Hán học Mỹ trở thành dòng chính của Hán học phương Tây, có thể dẫn quan điểm của Wolfgang Kubin: “Dòng chính của Hán học Mỹ, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu Hán học hiện đại và đương đại, chủ yếu đi theo hai tư tưởng định sẵn và một phương pháp lưu truyền lại, tức là: tính chính xác chính trị (political correctness), ngôn ngữ hậu chủ nghĩa thực dân và phương pháp học thuật sách giáo khoa do lịch sử truyền lại và rất thành vấn đề (học thuật sách giáo khoa cộng với lý luận văn học thực dụng tức thì)”(12). Theo thái độ nghiên cứu của học giả Mỹ, là sự bình đẳng trên nguyên tắc giữa Trung Quốc với phương Tây. Phương pháp học thuật sách giáo khoa là cách đặt ra “tiêu chuẩn kỹ thuật” và đạt tới “ý kiến nhất trí”. Kết quả là không tôn trọng đa nguyên hóa tư tưởng học thuật.
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện đại, Hán học châu Âu bất kể là trong hay ngoài chế độ đại học đều không tránh khỏi quốc tế hóa với tốc độ ngày càng nhanh, ngôn ngữ môi giới là Anh văn. Cho nên các tổ chức nghiên cứu quốc tế ngày càng lấy Anh văn làm ngôn ngữ chủ yếu, cơ hồ không chú ý đến các tác phẩm nghiên cứu hay phiên dịch bằng các ngôn ngữ khác của châu Âu. Không ít các nhà Hán học châu Âu đã công bố trước tác của mình bằng tiếng Anh để được nổi tiếng hơn. Ngoài ra, cũng có những kế hoạch hoặc dự án hợp tác quốc tế và nghiên cứu theo hợp đồng, các cơ cấu tài trợ quốc gia và các quỹ hết sức ủng hộ và khuyến khích xu thế này. Về phương diện dạy học, ta cũng thấy xu thế quốc tế hóa này: “Trước kia không có học vị học sĩ, nay đã đặt thêm (hoặc sắp mở thêm) khóa trình ban đại học. Đồng thời cũng yêu cầu điều chỉnh các khóa trình học sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ theo tiêu chuẩn thống nhất của các nước châu Âu. Các điều chỉnh này đã nâng cao tính lưu động của người học. Số lượng người học đại học ở nước A, học thạc sĩ ở nước B rồi học tiến sĩ ở nước C liên tục tăng lên”(13).
Dù sao, thách thức lớn nhất đối với Hán học hoặc các ngành học khác, nhất là các khoa học nhân văn vẫn là từ nền giáo dục bậc cao trong các cuộc biến đổi xã hội. “Trước mắt, đồng thời với xu hướng công lợi xem giáo dục bậc cao là hàng hóa, chúng ta quan sát thấy phẩm chất của giáo dục đại học và vai trò của trường đại học với tư cách là cơ quan nghiên cứu đều không ngừng chìm đắm… Dựa trên giả thiết trường đại học có thể và nên là một xí nghiệp để kinh doanh, giá thành trở thành sự tính toán chủ yếu nhất của hoạt động đại học. Số lượng sinh viên, thu nhập có được từ việc học sinh sinh viên đóng học phí và (trong một số trường hợp) sự bổ trợ của chính phủ đang quyết định vận mệnh của một số khóa trình. Mỗi môn học phải thu nhận bao nhiêu sinh viên mới “vừa với giá thành”… Phương thức tính toán lượng hóa như vậy đã hạn định những ngành học ít giá trị kinh tế nhất. Vì những lý do hoàn toàn không dính dáng đến học thuật như vậy, người ta đặt dấu hỏi về “tính cần thiết” của việc mở ra một khóa trình hay học trình nào đó”(14).
IV. SỰ PHÁT TRIỂN TƯƠNG LAI CỦA HÁN HỌC CHÂU ÂU
Lối ra của Hán học châu Âu nằm ở đâu? Dưới đây là quan điểm của nhà phê phán nghiên cứu Hán học Hà Lan Hans Kuijper.
Thứ nhất, tôi tin rằng nhà Hán học tương lai (hoặc có thể gọi là nhà Trung Quốc thông/ chuyên gia về Trung Quốc) nên làm nhiều công việc phiên dịch, bởi vì Hán học dựa trên cơ sở Hán ngữ thực tế (nhất là ngôn ngữ sách vở/ chữ Hán) để tiến hành nghiên cứu bất cứ một bình diện nào của văn hóa Trung Quốc và thu được thành quả nghiên cứu. Tuy phiên dịch là một thứ công việc khiêm tốn, nhưng nó quả thật vô cùng quan trọng. Hans Kuijper nói: “Chỗ mạnh của nhà Hán học là phiên dịch công tác nghiên cứu tuyệt đối là nhược điểm của Hán học. Vì thế nhà Hán học phải chuyên chú vào việc trước, mà liên minh với các chuyên gia đích thực trong việc sau”(15). Ở đây cần nhấn mạnh lại: hán học với tư cách một “khoa học giao thoa” nên đối thoại và trò chuyện hơn nữa với các ngành học chuyên môn như triết học, xã hội học, sử học v.v…
Thứ hai, Hans Kuijper nêu ra 3 kiến nghị về phương diện kế hoạch nghiên cứu:
1. “Một bộ Lịch sử triết học Trung Quốc mới”, có nghĩa là một tác phẩm có thể sánh vai với các bộ lịch sử triết học “phương Tây” ưu tú nhất, tức là có thể sống được nhiều năm mà vẫn có thể dựa vào đó làm tiêu chuẩn. Đó là một tác phẩm tự thuật nhất trí xuyên suốt, trong đó chủ đề phải tái hiện nhiều lần, rõ ràng dễ nhận thấy. Đơn thuần liệt kê tư tưởng Nho giáo, tư tưởng Đạo giáo, tư tưởng Phật giáo và tư tưởng Mao Trạch Đông thì không thể tổ thành một bộ lịch sử triết học Trung Quốc; nó phải bao quát hết các lĩnh vực triết học có liên quan đến Trung Quốc. Một kế hoạch hợp tác nghiên cứu lí tưởng trong óc tôi là một công trình nghiên cứu sâu sắc mang tính phê phán, coi trọng triết học cũng như coi trọng “lịch sử”, và có thể đánh giá bối cảnh văn hóa xã hội. Bởi vì khái niệm ảnh hưởng hành vi có thể nổi lên và phát triển trong bối cảnh này(16). Tiến tới quy hoạch “Triết học thế giới” trong đó có phần triết học Trung Quốc hoàn chỉnh.
2. “Nghiên cứu Nho học bằng thủ pháp “hệ thống hóa” cũng là một việc bức thiết có nhu cầu. Trọng điểm là ở chỗ đi theo con đường luân lý học của “đạo Khổng Tử”, và chủ yếu phải gắn với nguyên tắc đạo đức (suy rộng ra là gắn với nguyên tắc chính trị. Tìm tòi tư tưởng cội nguồn của Nho gia, của nguyên tắc đạo đức thì tất yếu phải hiến thân cho việc nghiên cứu nghị đề hình nhi thượng học và nhận thức luận, cũng tức là vấn đề quan hệ vĩnh hằng giữa thực tại (Ta là cái gì? Que suis je?) với tri thức (Ta biết cái gì? Que sais je?). Về vấn đề này, đáp án của Nho học ở đâu ? Chúng ta có lẽ nên thử nghiệm một số nghiên cứu so sánh thích hợp với chiều gió thời đại, tiêu đề là nghiên cứu so sánh luân lí học Nho gia và Cơ đốc giáo, lí tưởng tối cao của loại nghiên cứu này là xem sự tự ngã thực hiện là chủ điệu"(17).
3. "Bước chân hiện đại hóa đã dần dần vượt ra ngoài phạm vi châu Âu mà khuếch tán ra toàn cầu, quá trình này gọi là Tây hóa. Quá trình Tây hóa dẫn đến sự biến động bất an về bản chất, dẫn đến không khí căng thẳng giữa các hệ thống quốc gia trên toàn cầu. Giống như vận động địa xác trên mặt đất, những biến động và căng thẳng này có lúc thì tích tụ thành hình, gây nên các vụ nổ núi lửa hoặc động đất chết người. Muốn trở thành một quốc gia hiện đại, dường như có nghĩa là phải trở thành một xã hội Tây phương hóa, thế nhưng các xã hội phi Tây phương không có bất cứ sự lựa chọn nào trước vấn đề này. Là thuộc địa của các thế lực phương Tây hoặc là những kẻ đồng lõa với chúng, các quốc gia này thường phát hiện rằng chính mình đang "phát triển" theo phương hướng kiểu Tây. Dù đã có những sự lựa chọn khác nhau, nhưng chiều hướng chung vẫn cho rằng hình thái xã hội duy nhất có thể thực hiện được là xã hội "công nghiệp". Trước kia đã như vậy, và ngày nay cũng như vậy, Nhật Bản và Trung Quốc có thể lần lượt là tiêu biểu. Nhật Bản đã qua công nghiệp hóa mà nhảy vọt lên thành một trong những quốc gia lớn mạnh nhất, và Trung Quốc ngày nay cũng đang đi lên con đường như vậy. Để tìm kiếm thành công, phải chăng là hiện đại hóa kinh tế và hiện đại hóa chính trị phải nắm tay nhau cùng tiến, câu hỏi này chưa có được đáp án hoàn chỉnh"(18).
Thứ ba, về phương pháp nghiên cứu Hán học, Hans Kuijper cho rằng: "Chúng ta có lẽ có thể kết luận rằng địa lí học, lịch sử biên toản học (khoa học biên soạn lịch sử) và xã hội học hình thành một thể liên kết (chỉnh thể) hình tam giác đều. Có điều là, đến đây chúng ta gặp phải vấn đề hạt nhân: con người là một bộ phận (a part) của tự nhiên, lịch sử và xã hội, con người cũng đồng thời vượt lên (a part from) tự nhiên, lịch sử và xã hội. Để cho công bằng, tôi đề xuất phương pháp nghiên cứu mở ra 4 hướng, gọi là thể tứ diện đều (tetrahedron), lấy làm mô thức nghiên cứu hoàn toàn mới. Kỳ thực, thể tứ diện này đã từng được Platon và Euclide thao tác từ lâu(19). Trong đó, con người với tư cách là "chủ thể nhận thức" có được địa vị trọng yếu. Mô thức nghiên cứu mà Hans Kuijper thúc đẩy là: "... Phương pháp nghiên cứu được cực lực ủng hộ không phải là nghiên cứu đa ngành (multi disciplinary) mà là đặc biệt nhấn mạnh "xuyên liên ngành" (inter disciplinary) hoặc "siêu" ngành (trans disciplinary). Bởi vì cái trước (đa ngành) tạo ra kết quả nghiên cứu kiểu ghép nối (tự thuật thành chuỗi, giao tập là zéro); còn cái sau (xuyên liên ngành hoặc "siêu" ngành) thì có thể rọi sáng cả kết cấu thống nhất của chỉnh thể. Cái chúng ta cần không phải là huấn luyện ra lối diễn xuất không hài hòa, không ăn khớp của những nhà ngữ âm học vụng về, mà là lối diễn xuất "hài hòa", "ăn khớp" của những nhà diễn tấu chuyên nghiệp. "Chỉnh hợp" thật ra tốt hơn "liên hợp", "xếp sóng hàng" thật ra chưa phải là phép "hợp" thành. Ranh giới ở đây rất rạch ròi, bất cứ một nhà viết nhạc, kiến trúc sư, biên đạo múa, họa sĩ, nhà thiết kế thời trang, nhà chỉ đạo sân khấu, nhà nhiếp ảnh, nhà biên tập phim, nhà tiểu thuyết nào cũng phân biệt rất dễ dàng(20).
Tổng quát các nội dung trình bày trên, có thể dẫn lời của Bernhard Fuehrer: "... Đánh giá lịch sử phát triển cũng như hiện trạng của Hán học, phải xem xét mấy vấn đề liên quan với học thuật hiện nay là:
Hán học đang đứng ở vị trí nào trong cuộc luận chiến học thuật đang tiếp tục diễn tiến hiện nay ?
Chủ đề nghiên cứu Hán học đặc định tiên tiến nhất có thể có cống hiến trên phương diện nào, hoặc giả đã tìm được giải đáp hứng thú cho việc nghiên cứu hiện nay ?
Nghiên cứu Hán học có cống hiến cho sự phát triển phương pháp nghiên cứu hay không ?
Hán học sắm vai trò nào trong toàn giới học thuật nói chung ?
Rất rõ ràng là 4 điều nghi vấn trên đã và đang khiến chúng ta phải lao tâm khổ tứ."(21)
Đương nhiên, quá trình giải quyết các vấn đề này cũng sẽ hình thành nên hiện trạng và tương lai của nền Hán học.
Chú thích:
(1) Xem thêm Đỗ Duy Minh: Hán học, Trung Quốc học với Nho học in trong Đánh giá lại các giá trị Đông Á (HongKong: Oxford University Press [China], 1999, tr.1-33).
(2) Ý của Herbert Franke trong "Sinologie in westlichen Staaten” (Hán học ở các nước phương Tây) đăng ở “China Handbuch” (Sổ tay Trung Quốc) Diisseldorf 1974).
(3) Xem thêm Trương Tây Bình "Nghiên cứu Hán học của các nhà truyền giáo" (Truyền giáo sĩ Hán học nghiên cứu), Nxb Đại Tượng, Khai Phong, 2005, tr.3.
(4) Cathay là từ Catai chuyển sang Anh văn, trong tiếng Anh chỉ Trung Quốc; Catai vốn chỉ "Hoa Bắc" (như Marco Polo gọi Hoa Nam là Manji/ Mangi hoặc Manzi). Catai vốn chỉ Khitan (Khiết Đan) tức là nước Liêu, là vương triều dân tộc thiểu số đầu tiên trên lịch sử Trung Quốc 907 - 1125. Người Khiết Đan phần nhiều hòa tan vào trong các dân tộc khác ở Bắc Trung Quốc như dân tộc Hán, dân tộc Nữ Chân, dân tộc Mông Cổ v.v...
(5) Chuyến đi thứ hai này kéo dài đến năm 1295. Gia đình Marco Polo về đến châu Âu, định cư ở Venise. Năm 1298 ông tham gia cuộc hải chiến giữa Venise với Renaiya, chiến bại bị bắt làm tù binh, ở trong ngục mất mấy tháng, ông thuật lại cho bạn tù nghe quãng thời gian kinh lịch ở Trung Quốc, và viết cuốn sách II Milione (Trăm vạn) hoặc The Travels of Marco Polo (Marco Polo du ký), bằng tiếng Provençal (tiếng Pháp cổ), sau khi xuất bản nhanh chóng được dịch ra các ngôn ngữ châu Âu khác.
(6) Các học giả này chỉ ra rằng ghi chép của Marco Polo không trọn vẹn. Nhiều thứ thường thấy như: đũa, trà, vải bó chân, Trường Thành đều không được nhắc đến. Hơn nữa, ghi chép lịch sử của triều Nguyên không hề nhắc đến ông ta là đặc sứ của Hốt Tất Liệt, thậm chí tên ông ta cũng chưa từng xuất hiện trong lịch sử Trung Quốc. Nhưng xét trên một phương diện khác, ông đã miêu tả những chi tiết khác trong đời sống Viễn Đông, như tiền giấy, kênh đào Đại vận hà, quân Mông Cổ, cọp, kết cấu của hệ thống bưu chính hoàng gia. Ông còn nhắc đến tên gọi cổ của Trung Quốc đối với Nhật Bản, là lần đầu tiên Nhật Bản xuất hiện trong văn học phương Tây.
(7) Xem thêm Jean Pierre Drège (chủ biên), Cảnh Thăng dịch, Pháp quốc đương đại Trung Quốc học, Nxb Trung Quốc xã hội khoa học, Bắc Kinh, 1998, tr.269-310.
(8) Đối với người châu Âu lúc bấy giờ, những câu chuyện về Trung Quốc khác nào sự tồn tại đích thực của "người ngoài hành tinh". Đó là một nền văn hóa vĩ đại chưa từng nghe nói trước kia, một nền văn hóa phát triển độc lập không có quan hệ gì với văn hóa phương Tây, thậm chí trong Kinh Thánh cũng không có ghi chép gì. Trong điều kiện thông tin hạn chế lúc bấy giờ, người châu Âu chỉ có thể trả lời các câu hỏi về Trung Quốc, nhờ vào trí tưởng tượng và năng lực tư biện mà thôi.
(9) Minh tâm bảo giám thành sách vào khoảng cuối Nguyên đầu Minh, do Phạm Lập Bản tập lục chỉnh lí, gồm 20 thiên, nội hàm dung nạp học thuyết Nho - Thích - Đạo tam giáo, tập hợp các lời dạy của tiên thánh tiền hiền về tu dưỡng phẩm đức cá nhân, tu thân dưỡng tính, an thân lập mệnh (từ trước đời Minh) làm thành sách vỡ lòng. Sách này là sách đọc thông thường rất phổ biến ở đời Minh, và là cuốn sách vỡ lòng khuyến thiện được hoan nghênh nhất thời bấy giờ.
(10) Xem thêm Federico Masini, Notes on the first Chinese/ Dictionary Published in Europe (1670) (Nhận xét về cuốn từ điển Hán ngữ đầu tiên xuất bản ở châu Âu) trong Monumenta Serica (Hoa duệ học chí, 51 (2003)).
(11) Năm này (1898), Mã Kiến Trung (1845 - 1900) xuất bản cuốn Mã thị văn thông. Sách này lấy ngữ pháp của ngữ văn phương Tây làm gốc, đối chiếu với những câu thí dụ chọn lọc trong sách cổ, nghiên cứu quy luật ngữ pháp của Cổ Hán ngữ, sáng lập ra một hệ thống ngữ pháp Hán ngữ, là tác phẩm mở đường đặt nền móng cho ngữ pháp Hán ngữ, có ảnh hưởng to lớn đối với việc nghiên cứu ngữ pháp Hán ngữ đời sau.
(12) Wolfgang Kubin: Hán học từ đâu đến và đi tới đâu ? Thử bàn về hiện trạng của Hán học trong Kỉ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ hai của Trường đại học Phụ Nhân, tr.304.
(13)(14) Bernhard Fuchrer: Suy ngẫm về hiện trạng của nghiên cứu Hán học ở châu Âu.
(15) Hans Kuijper: Phân tích phê phán đối với việc nghiên cứu Trung Quốc đăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế Hán học lần thứ hai của trường đại học Phụ Nhân tr.379.
(16) Như 15, tr.381.
(17) Như 15, tr.382.
(18) Như 15, tr.385.
(19) Như 15, tr.389.
(20) Như 15, tr.387.
Bernhard Fuehrer: Suy ngẫm về hiện trạng nghiên cứu Hán học ở châu Âu./.
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.513-540)