VI | EN
9. Hướng tìm hiểu lịch sử chèo qua tư liệu Hán Nôm (TBHNH 1996)
TBHNH1996

HƯỚNG TÌM HIỂU LỊCH SỬ CHÈO QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM

Phạm Đức Duật

Sở Văn hóa và Thông tin Thái Bình

Tìm hiểu lịch sử nghệ thuật chèo, hay bất cứ một nghệ thuật nào, người ta thường nhằm vào hai nguồn chủ yếu là nghệ nhân và thư tịch. Với một nghệ thuật có lịch sử hàng mấy trăm năm thì nguồn tìm tòi ở nghệ nhân thường không được giải đáp triệt để, vì họ chỉ cung cấp cho chúng ta những sự việc có thật khoảng một trăm năm trở lại đây là cùng. Mấy chục năm trước đây, chúng ta còn khai thác, tiếp xúc với hàng loạt nghệ nhân chèo ở hầu khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng nhiều lắm các cụ chỉ có thể cho chúng ta biết chắc về những sự việc hồi cuối thế kỷ XIX, xa hơn nữa chỉ là những hiểu biết “nghe các cụ nói lại” không lấy gì làm chắc; cũng như những điều mà chúng ta “nghe các bác nghệ nhân nói lại” đâu cần hải có cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng. Ngay những tư liệu giấy trắng mực đen cũng chưa chắc đã tránh khỏi tình trạng tam sao thất bản, nói gì là tư liệu truyền khẩu làm sao không có sự xuyên tạc hữu ý hay vô tình. Dĩ nhiên, nói các bác nghệ nhân biết rõ sự việc hồi cuối thế kỷ XIX là tính theo tuổi đời. Nếu theo tuổi nghề thì chúng ta không còn một ai vào nghề chèo từ trước thế kỷ XIX.

Vậy thì chỉ còn thư tịch, những bản trò và những tài liệu nói đến văn học nghệ thuật trong và ngoài nước của người xưa là nguồn đáng tin cậy.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn chép một chuyện thực về vợ chồng người phường chèo ở Sơn Nam như sau:

“Một người phường chèo, vợ có nhan sắc, người khách buôn phương Bắc trông thấy, liền bỏ tiền của ra dụ dỗ vợ chồng người ấy xuống thuyền ca hát, nhân đấy cho người chồng uống rượu say, rồi đem người vợ dấu ở dưới cột buồm, bắt miệng ngậm nhân sâ để khỏi tắt thở. Khi người chồng tỉnh rượu, không thấy vợ, hỏi thì người lái buôn nói dối là “đã lên bờ từ trước rồi”.

Người chồng tìm khắp nơi không thấy, bèn làm đơn tố cáo ở cửa doanh. Lê Đình Kiên làm trấn thủ Sơn Nam lúc đó, sai người tìm kiếm trong thuyền không thấy bóng dáng đâu cả lại sai viên thuộc là Dung Vũ đem lính đi tìm. Người khách buôn hùng hổ, tuốt gươm quát to lên rằng: “Nếu không tìm được, ta sẽ giết ngươi”. Dung Vũ sức lực to lớn, xông thẳng đến ôm chặt lấy và giật phăng lấy thanh kiếm, rồi mắng người khách lái buôn rằng: “Mày muốn kháng cự việc quan à?”. Sau đó, Vũ bắt trói ba người giải nộp quan. Đình Kiên sai giam riêng mỗi người một nơi, đem hết đồ tra tấn ra để uy hiếp, nhưng bọn kia vẫn không thú nhận. Đình Kiên bàn, trước hết đem hai người khảo đả thật đau, còn một người nữa thì cho đứng ngoài sân xa xa trông thấy. Khi khảo đả xong, cho lôi ra chỗ khác. Bấy giờ mới cho giải thoát người sau cùng vào mắng bảo rằng: “Bọn kia đã chiêu xưng rồi, lời cung chứng cứ đủ cả đây, mày còn dấu diếm chối cãi à?” vừa nói, vừa cầm vờ một tờ giấy bảo cho người này biees. Người ấy hoang mang nói hết sự thật. Đình Kiên sai bắt giải về thuyền, tìm ở dưới cột buồm, quả nhiên thấy vợ người phường chèo, liền trao trả cho người ấy và phạt người khách buôn phương Bắc 70 dật bạc. Người ta đều khen Đình Kiên là người khéo xét kiện”.

Qua câu chuyện Lê Quí Đôn ghi chép ở trên, chúng ta thấy chủ yếu ông khen Lê Đình Kiên, một trấn thủ Sơn Nam có tài xét kiện, đồng thời cũng vạch trần sự xảo quyệt của tên khách buôn này. Nhưng câu chuyện trên còn phản ánh một cách khách quan rằng, ở thế kỷ XVIII đã có những người sống bằng nghề hát chèo chuyên nghiệp. Trong thực tế, thời kỳ cận đại ở đồng bằng Bắc Bộ, nhiều ban hát không chuyên, thường thường vai đào vẫn phải dùng nam giới đóng giả. Câu chuyện về hai vợ chồng người phường chèo ở trên, chứng tỏ nghề hát chèo ở trấn Sơn Nam lúc ấy đã rất thịnh đạt.

Về bản trò chèo thì Quan Âm Thị Kính là một trong số ít vở chèo có bản trò ổn định vào loại sớm. Song có tích mới dịch nên trò. Từ nhiều năm nay, chúng tôi rất lưu lý đến các văn bản truyện Nôm được chuyển thành chèo. Quan Âm Thị Kính cũng chính là Quan Âm tân truyện in bằng chữ Nôm, hoàn toàn không có lời tựa, lời dẫn nên cũng chẳng cho người đọc biết ai là tác giả của nó. Rồi đến trước cách mạng Tháng 8-1945 văn bản Nôm ấy được phiên âm in thành chữ quốc ngữ, cũng không được tra cứu nêu tên tác giả của nó là ai. Mãi đến năm 1957, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đức Đàn mới giới thiệu và chú thích Quan Âm Thị Kính có phân tích nội dung truyện, rồi đặt giải thiết về niên đại xuất hiện của truyện: “Ức đoán rằng tác phẩm này có thể xuất hiện vào thời Lê mạt Nguyễn sơ...”. Năm 1958, các tác giả Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong và Nguyễn Đổng Chi viết Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển III, đặt Quan Âm Thị Kính vào loại “Tác phẩm khuyết danh” và xếp ở thế kỷ XVIII. Đến năm 1962, trong cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam in lần đầu của nhóm Trần Văn Giáp (chủ biên), Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng và Đỗ Thiện đã tiến thêm một bước ghi tên tác giả truyện Nôm Quan Âm Thị Kính là: “Đỗ Trọng Dư, người làng Đại Mão, huyện Siêu Loại (Sau là phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Không biết ông sinh và mất năm nào. Năm 1819 (Gia Long thứ 18), ông đậu Hương cống, làm quan đến Tri huyện, rồi bị cách. Tác phẩm của ông còn lại có: Một áng văn Nôm Quan Âm Thị Kính (theo gia phả họ Đỗ)”.

Năm 1970, chúng tôi may mắn được nhà Hán học lão thành Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm cho đọc và dẫn giải về lai lịch bản Nôm Quan Âm tân truyện in năm Mậu Thìn (1868). Cụ còn vui mừng thông báo cho tôi về tác giả của tác phẩm này không phải là Đỗ Trọng Dư, mà chính là Nguyễn Cấp, người thôn Thượng, xã Nguyên Khiết, huyện Thọ Xương, Hà Nội, đỗ thủ khoa thi Hương khoa Quí Dậu (1813) năm Gia Long thứ 12, ở trường thi Thăng Long. Tháng 11 năm Giáp Thân (1824), Minh Mệnh thứ 5, Nguyễn Cấp được bổ làm đồng tri phủ, phủ Thiên Trường (thuộc Nam Định ngày nay). Đến tháng 4 năm Kỷ Sửu (1829), Minh Mệnh thứ 10, ông dang làm Tri phủ Thiên Trường, bỗng xẩy ra vụ oan ức như sau:

Bấy giờ có người dân ở Giao Thủy, vì việc tranh kiện, đem của đến hối lộ vợ Cấp. Vợ Cấp ăn lễ của bên bị, sai đầu độc giết chết bên nguyên. Việc phát giác, Cấp bị khép vào tội phải tự thắt cổ. Không chịu nhận tờ chiếu bắt tội, Cấp bỏ trốn đi, nhưng bị làng bắt được, xích tay, giải lên dinh Tổng trấn Bắc Thành.

Sau đó, Cấp có người cháu, con nhà chú bác từ kinh đô Huế ra Bắc, tung tin rằng Cấp được ân xá, bèn giết bò, mua rượu, thết đãi các ngục lại. Bọn ngục lại say nhừ, trễ tràng việc canh giữ. Đêm khuya, Cấp bẻ khóa lại trốn đi, lưu lại hai nén bạc để tặng ngục lại. Về sau, Cấp chuộc tội bằng 100 lạng bạc, trốn tránh sang nương náu ở Trung Quốc, nhưng rồi bị nhà Thanh đuổi về nước. Cấp lại trốn thoát, ẩn náu ở vùng Lạng Giang, rồi tự cắt tóc làm sư. Được Tham tán Nguyễn Công Trứ bao che, Cấp ẩn thân ở nơi lâm tuyền, viết Quan âm tân truyện để tự bày tỏ nỗi mình. Ngoài ra, Cấp còn có tác phẩm Tam tự kinh quốc âm caLý trưởng truyện, v.v... Đó là theo sách Quốc sử di biên (thư viện khoa học, ký hiệu Hv.2816), tác phẩm của Thám hoa Phan Thúc Trực, viết dưới triều Tự Đức (1848-1883).

Từ những dẫn liệu trên về truyện Nôm Quan âm tân truyện cũng đủ cho chúng ta thấy rằng kịch bản chèo tương đối ổn định khi có truyện thơ Nôm xuất hiện.

Và điều hiển nhiên rằng truyện Nôm Quan Âm tân truyện cũng chính là Quan âm Thị Kính ra đời vào thế kỷ XIX thì bản trò chèo Quan Âm Thị Kính cũng không thể có trước thế kỷ XIX được. Do đó, chúng ta cũng thấy thêm rằng, việc phổ biến rộng rãi truyện thơ Nôm, chứng tỏ quần chúng đang trên đà chiếm lĩnh văn học thành văn bằng tiếng mẹ đẻ và chữ viết dân tộc. Một số truyện thơ Nôm bình dân được nghiên cứu chính diện, vì nó đã xóa mờ ranh giới giữa truyện cổ tích và tiểu thuyết của quần chúng như Thạch Sanh, hoặc vì nó là cơ sở của kịch bản chèo như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Từ Thức,... Đây là một sự kiện khá độc đáo trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Nói tóm lại, với hướng tìm hiểu lịch sử chèo qua tư liệu Hán Nôm, thì mảng sách chữ Nôm như Quan Âm tân truyện, Từ Thức tân truyện, Thạch Sanh tân truyện, Trương Viên diễn ca, Trương sinh tân trò, Kim Vân Kiều trò, Bản diễn trò Hà Ô Lôi v.v... là nguồn tư liệu quí báu đóng góp đáng kể cho giới nghiên cứu lịch sử sân khấu truyền thống ở nước ta.

Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.79-84)

Phạm Đức Duật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm