9. Một bài thơ tạp cú đặc sắc (TBHNH 2005)
MỘT BÀI THƠ TẬP CÚ ĐẶC SẮCPHAN VĂN CÁC
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Đó là một bài thơ được chép trong Bùi thị gia phả 裴 氏 家 譜do Bùi Phổ 裴 溥(1776-1838) soạn và viết tựa vào các năm Gia Long 7 (1803) và Minh Mệnh 11 (1830). Ông nguyên tên là Bùi Trữ 裴 杼tự là Văn Cơ 文 機, hiệu là Mão Hiên 卯 軒, người Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, từng giữ chức Tri huyện, sau thăng Thiêm sự bộ Hộ. Tác phẩm có:
Mão Hiên hành trạng卯 軒 行 狀(A.912 Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
Mão Hiên chuyết bút卯 軒拙 筆(A.913)
Mão Hiên văn tập卯 軒 聞 集(A.835)
Và Bùi thị gia phả.
Bùi thị gia phả (A.1002) là gia phả của họ Bùi, họ này nguyên ở xã Cát Xuyên, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, đến cuối đời nhà Hồ di cư đến xã Quang Công, huyện Thanh Đàm (Định Công, Thanh Trì, Hà Nội), tức là chi Bùi Phổ.
Sách gồm 3 quyển, 350 trang, khổ 30x20cm.
- Quyển 1 có hai bài tựa của người soạn và một phàm lệ gồm 15 điều, một bản niên kỉ từ Lê Thái Tổ, Thuận Thiên, Mậu Thân (1428) đến Đồng Khánh, Bính Tuất (1886), một bản thế thứ, chép từ thủy tổ đến Bùi Phổ.
- Quyển 2 ghi ngày huý, tế lễ, mồ mả v.v.. của những người trong họ.
- Quyển 3 gồm các sắc phong cho Bùi Phổ, văn thơ của Bùi Phổ và người trong họ cùng bè bạn. Cuối cùng có danh sách 44 người được cúng ở nhà thờ Từ Lương (trong đó có Bùi Phổ).
Nội dung có một phần nhỏ đề cập đến những người và việc sau khi Bùi Phổ qua đời, cho thấy sách đã được người khác tục biên chỉnh lí. Văn bản chép bằng lối chữ chân phương nhưng có không ít chữ sai, hẳn là lỗi của người chép (Xin xem 3 trang in chụp bài thơ kèm theo).
Bài thơ có một lời dẫn ngắn như sau:
“Thất thập nhi trí sự cổ hĩ.
Đại nhân niên thuỷ lục thập nhất, dĩ Thượng thư nguyên hàm quy, thủy chung hoàn danh, thị hựu nhân chi sở nan, nhi đại nhân chi sở đọc dã. Vĩ tai!
Ti đẳng, thiêm liệt môn đào, bất thăng hân hạnh.
Viên tập Đào thi vi trường thiên nhất thủ, tịnh đối nhất liên, cung hiến như tả”.
Nghĩa là:
“Bảy mươi về trí sĩ là việc từ xưa.
Nhưng đại nhân tuổi mới sáu mốt, về hưu giữ nguyên hàm Thượng thư, trước sau vẹn tròn thanh danh, đó là điều người ta coi như khó, lại là điều riêng có ở đại nhân. Lớn lao thay!
Chúng con, may được dự vào hàng học trò, hân hạnh khôn xiết.
Bèn tập các câu thơ của họ Đào (tức Đào Uyên Minh – PVC) thành một bài trường thiên, và một đôi câu đối, kính dâng đại nhân như sau”.
Cuối bài thơ có ghi tên hai tác giả là Hình bộ Viên ngoại lang Nguyễn Khắc Trạch và Hình bộ Chủ sự Nguyễn Thời Trị đồng bái.
Về Nguyễn Thời Trị, chưa rõ tiểu sử và lại lịch. Riêng Nguyễn Khắc Trạch thì tài liệu Đăng khoa lục cho biết có 4 người cùng tên, nhưng xét tuổi tác thì chỉ có Nguyễn Khắc Trạch người xã Bình Hồ, huyện Đông Yên (nay thuộc Châu Giang, Hưng Yên, đỗ Cử nhân năm 1825, làm quan tới Hàn lâm viện Trực học sĩ, sung Toản tu Quốc sử quán là thích hợp hơn cả.
Toàn văn bài thơ như sau:
PHIÊN ÂM
1. Thiếu thời tráng thả lệ (Nghĩ cổ bát)
2. Cập thần nguyện ô thiên (Thị Bàng Chủ bạ)
3. Lăng lệ lịch vạn lí (Vịnh Kinh Kha)
4. Mẫn miễn tứ thập niên (Liên vũ độc ẩm)
5. Hàm huân đãi thanh phong (Ẩm tử thập thất)
6. Lượng lực thủ cố triệt (Vịnh bần sĩ nhất)
7. Vinh vinh song hạ lan (Nghĩ cổ nhất)
8. Hạo hạo vân gian nguyệt (Nghĩ cổ thất)
9. Mãnh chí cố thường tại, (Độc kinh thập)
10. Hậu ân tâm nan vương [vong] (Vịnh tam lương)
11. Tư niên thệ dĩ lão (Điền xá)
12. Đạo lộ quýnh thả trường (Ẩm tửu thập)
13. Du du mê sở lưu (Ẩm tửu thập tứ)
14. Trì trì tương hồi bộ (Bi tòng đệ)
15. Dục biện dĩ vong ngôn (Ẩm tửu ngũ)
16. Dục lưu bất đắc trú (Thần thích)
17. Hà thường thất hiển mặc (Ẩm tửu thập bát)
18. Cố chiêm vô sất trù (Du Tà xuyên)
19. Hoa hiên doanh đạo lộ (Vịnh nhị sơ)
20. Hoãn đới tận hoan ngu (Tạp thi tứ)
21. Hoàn tọa cánh tự tư (Nghĩ cổ lục)
22. Khứ khứ đương hề đạo (Ẩm tửu thập nhị)
23. Huyền xa liễm dư huy (Tống khách)
24. Hư chu túng dật trạo (Họa Đái chủ bạ)
25. Thu cúc hữu giai sắc (Ẩm Tửu thất)
26. Đào lí la đường tiền (Quy điền nhất)
27. Tân quỳ uất bắc dũ (Thù Lưu Sài Tang)
28. Thanh tùng tại đông viên (Ẩm tửu bát)
29. Thê trì cố đa ngu (Cửu nhật nhàn cư)
30. Cùng thông mị du lự (Họa Trương Thường thị)
31. Thường hữu hảo dung nhan (Nghĩ cổ ngũ)
32. Đãn nguyện trường như thử (Hoạch hạn đạo)
DỊCH THƠ
Thời trẻ, khoẻ lại hăng
Mong bóng ác chuyển nhanh.
Băng băng qua muôn dặm.
Gắng gỏi bốn mươi năm.
Ngậm thơm chờ gió thanh,
Lượng sức giữ đạo hằng.
Dưới song, lan đua nở.
Giữa mây, vằng vặc trăng.
Chí hăng vốn còn mãi,
Lòng chẳng quên ơn dày.
Tuổi trời cho về lão.
Đường đi dằng dặc dài.
Bâng khuâng như lạc lối.
Chầm chậm bước quay lui
Muốn nói đã quên lời
Muốn lưu không giữ nổi.
Hiển mặc chưa hề sai,
Bạn lứa không còn ai.
Đầy đường xe hoa lệ,
Mặc sức mà đùa vui.
Quẩn quanh thêm suy nghĩ.
Đi đi, còn nói gì.
Mặt trời đà khuất bóng,
Ngày tháng cứ trôi đi.
Cúc mùa thu màu đẹp,
Trước nhà đào nở hồng.
Hoa quỳ rợp song bắc,
Tùng xanh ngát vườn đông.
Dạo chơi thường thoả chí
Chẳng lo cùng hay không.
Dung nhan luôn tươi hồng,
Mong mãi hoài như thế.
Bình giải:
Tập cú là một lối chơi thơ, nhặt (tập) những câu (cú) có sẵn của người xưa để làm thành một bài thơ của mình. Sách Mộng Khê bút đàm viết: “Vương Kinh Công (An Thạch - PVC) là người đầu tiên làm thơ tập cú, có bài dài đến một trăm vần, đều là tập hợp các câu thơ của tiền nhân, lời ý đối ngẫu nhiều khi còn sát sao hay hơn thơ gốc, về sau nhiều người bắt chước. Nhưng thật ra, từ đời Tấn, Phó Hàm 傅 咸đã có thơ tập cú Kinh Thi, chứng tỏ thơ tập cú không phải khởi đầu từ Vương An Thạch.
Bài Tập cú này của Nguyễn Khắc Trạch có những điểm đặc sắc sau:
1. Cả bài có 32 câu: đều lấy từ thơ của Đào Uyên Minh. Đào Uyên Minh (372-427) tự là Nguyên Lượng, đời gọi là Tịnh Tiết tiên sinh, là người Sài Tang, Tầm Dương (nay là Cửu Giang, Giang Tây) Trung Quốc, sau khi nhà Tấn mất, đổi tên là Tiềm. Đào Uyên Minh sống ở thời đại đen tối nhiễu nhương, chính trị rối ren, dân sinh điêu đứng, tư tưởng trống rỗng, đạo đức sa sút, văn phong quái đản, nhưng riêng ông kiên định niềm tin, giữ mình trong sạch, tôn sùng Nho thuật, cả về học thuật, đạo nghiệp và nhân phẩm đều có thành tựu phi thường giữ được một phong cách mẫu mực riêng, con người và thơ văn ngời sáng cổ kim, bởi vậy đã trở thành một bậc cự phách trên lịch sử văn học Trung Hoa, được ca ngợi là “thủy tổ của các nhà thơ ẩn dật”, “nhà thơ số một từ thời Tam đại trở xuống”, có ảnh hưởng lớn lao đến đời sau, người thời nay đánh giá là “đỉnh cao nhân cách lí tưởng của văn nhân Trung Hoa” (Tống Hiểu Hà trong Trung Quốc nhất tuyệt, Lí Duy Côn chủ biên)
2. Theo Dương Dũng trong Đào Uyên Minh tập hiệu tiên (Chính văn thư cục xuất bản, Taipei, 1998), Đào Uyên Minh hiện còn 115 bài thơ ngũ ngôn. Tập cú của Nguyễn Khắc Trạch đã dùng 32 bài, mỗi bài lấy 1 câu.
3. Tập cú có kết cấu hoàn chỉnh, 16 câu gieo vần, tất cả có 8 vần: Bốn cặp câu vần bằng: thiên, niên; vương, trường; trù, ngu; tiền, viên; bốn cặp câu vần trắc: triệt, nguyệt; bộ, trú; đạo, trạo; lự, thử; Cách nhau đều đặn, hết một cặp câu vần bằng, đến một cặp câu vần trắc, tạo một cảm giác hài hòa, ổn định.
Nhiều cặp câu đối ngẫu chặt chẽ: 5, 6; 7, 8; 13, 14; 23, 24; 25, 26; 27, 28; 29, 30. Lấy câu “Vinh vinh song hạ lan” ở bài Nghĩ cổ nhất đối với câu “Hạo hạo vân gian nguyệt” của bài Nghĩ cổ thất thật là tài tình, mà lại rất tự nhiên. Cũng như vậy, đem câu “Huyền xa liễm dư huy” của bài Tống khách ghép với câu “Hư chu túng dật trạo” của bài Họa Đái chủ bạ; câu “Tân quỳ uất bắc dũ” của bài Thù Lưu Sài Tang, ghép với câu “Thanh tùng tại đông viên” của bài Ẩm tửu bát.
Bài Tập cú của Nguyễn Khắc Trạch cho thấy tài nghệ của tác giả, và cũng nói lên ảnh hưởng sâu sắc của thơ ca cổ điển Trung Hoa nói chung và thơ Đào Uyên Minh nói riêng đối với thơ chữ Hán và đời sống văn hóa Việt Nam thời trung đại.
Chú thích:
(1) Câu 1, nguyên bản chép nhầm chữ thả 且thành chữ cụ 具, do tự dạng gần giống nhau, làm câu thơ mất nghĩa, nay sửa lại như trên.
(2) Câu 2, trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Oán thi Sở điệu thị Bàng Chủ bạ Đặng Trị trung 怨詩楚調示龐主簿鄧治中. Nguyên bản chép chữ điểu 鳥là nhầm, đúng ra là chữ ô 烏, Thiên Tinh thần huấn 精神訓 sách Hoài Nam Tử 淮南子nói rằng “Mặt trời có con quạ ba chân” (日中有三足鳥). Từ đó, người ta dùng ô, kim ô để chỉ Mặt trời. Hà chú: “Dĩ cơ hàn, có nguyện nhật dạ chi tốc dã” 以饑寒, 故願日夜之速也(Bởi đói rét nên mong ngày đêm qua nhanh).
(3) Câu 5, nguyên bản chép Tây phong 西風, đúng ra là thanh phong 清風.
(4) Câu 5, lấy từ bài thứ nhất trong 7 bài Vịnh bần sĩ 詠貧士Hai chữ Cố triệt故轍được chú thích là Đạo dã 道也, Nhân nghĩa dã 仁義也Cố triệt chỉ “đạo”, “nhân nghĩa”.
(5) Câu 9, trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Độc Sơn hải kinh kì thập 讀山海紅, 其十.
(6) Câu 11, trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Bính Thìn tuế bát nguyệt trung Hạ Tốn điền xá hoạch 丙辰歲八月中下潠田舍穫.
(7) Câu 14, trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Bi tòng đệ Trọng Đức 悲從弟仲德
(8) Câu 17, nguyên bản chép nhầm là hiển nhiên 顯然, đúng ra là hiển mặc 顯默. Trong thơ Ẩm tửu thập bát 飲酒十八của Đào Uyên Minh, đó là câu cuối, vần với các chữ đắc 得, hoặc 惑, tắc 塞, quốc 國ở các câu trên. Hiển 顯là đối lập với ẩn 隱; mặc 默 là đối lập với ngữ 語.
(9) Câu 18 trích từ bài Du Tà xuyên 遊斜川nguyên bản chép nhầm là Du Châm xuyên 遊针川.
(10) Câu 20 Hoàn đới tận hoan ngu 緩帶盡歡娛nguyên nghĩa là thảy đều thả lỏng thắt lưng mà vui chơi thỏa thích.
(11) Câu 21 Hoàn tọa cánh tự tư 還坐更自思, nguyên bản chép thành Hoàn hoàn cánh tương tư 還還更相思.
(12) Câu 23, trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Ư Vương phủ quân tọa tống khách 於王撫軍坐送客, Huyền xa懸 車theo Hoài Nam thiên văn huấn 淮 南 天 文訓tức là “mặt trời”. Câu này nguyên nghĩa là “Mặt trời đã thu về những tia nắng còn sót lại”, chúng tôi dịch thoát là “Mặt trời đã khuất bóng”.
(13) Câu 24 trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Ngũ nguyệt đán tác họa Đái chủ bạ五月旦作和戴主簿.
(14) Câu 26 trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Quy viên điền cư, ngũ thủ, kì nhất 歸園田居五首, 其 一 .
(15) Câu 30 trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Tuế mộ họa Trương Thường thị 歲暮和張常侍.
(16) Câu 32 trích từ bài thơ có tiêu đề đầy đủ là Canh Tuất tuế cửu nguyệt trung ư Tây điền hoạch hạn đạo 庚戌歲九月中於西田穫旱稻, nguyên bản chép nhầm chữ hạn 旱 thành chữ tảo 早./.
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.82-89)