9. Một số tư liệu về Hưng Yên lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ HƯNG YÊN LƯU TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
LÊ QUANG CHẮN
Viện Sử học
Viện Nghiên cứu Hán Nôm là trung tâm tàng trữ thư tịch và tài liệu Hán - Nôm lớn nhất nước ta hiện nay, với 5038 đầu sách và khoảng 30.000 đơn vị tư liệu(1). Kho sách này là nguồn tư liệu quý hiếm, đang được bảo quản đặc biệt. Đây là nguồn thư tịch cổ, chứa đựng lượng thông tin phong phú, đa dạng, rất đáng tin cậy về các vấn đề địa lý, lịch sử, văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật của dân tộc trong lịch sử. Tiếp cận nguồn tư liệu này, có thể đáp ứng nhu cầu khai thác tư liệu, thu thập thông tin nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu, sưu tầm và tìm hiểu về các địa phương.
Căn cứ vào những thông tin trong sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (Bổ di I, quyển Thượng)(2) chúng tôi xin cung cấp những tư liệu Hán Nôm thể loại do Viện Nghiên cứu Hán Nôm có liên quan tới Hưng Yên như sau:
1- Thần sắc: Là những đạo sắc do các triều đại nhà nước phong kiến, đứng đầu là vua, ban cấp cho các xã thôn trong việc phụng thờ thần ở địa phương. Mỗi đạo sắc thường ghi các yếu tố như: Nơi thờ thần (làng, xã), tên gọi của thần (thần hiệu, duệ hiệu, mỹ tự), lý do thần được phong hiệu (bao phong) hoặc nâng phẩm trật (hạ, trung, thượng đẳng thần), trách nhiệm của thần đối với nhân dân sở tại (phù hộ, che chở), nhiệm vụ của nhân dân địa phương đối với thần (tôn vinh, thờ tự), ngày ban sắc… Trong số 658 đạo sắc phong thần được chép lại của Hưng Yên còn lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán phân bố như sau:
- Văn Giang : 37 đạo - Văn Lâm: 290 đạo
- Ân Thi : 08 đạo - Yên Mỹ : 255 đạo
- Đông An (Yên): 35 đạo
- Kim Động: 33 đạo.
Đạo sắc có niên đại cổ nhất của Hưng Yên do Lê Thánh Tông (1460 - 1497) ban sắc cho Đại đô Lỗ Trâu Canh đại vương (xã Cốc Phong, huyện Đông An, phủ Khoái Châu); và đạo sắc của đời vua Lê Anh Tông (1557 - 1573) cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và mẹ là Thiên uy Thái trưởng Công chúa (xã Hoàng Cầu, huyện Đông An). Xã có nhiều sắc phong nhất là xã Tráng Vũ, tổng Đồng Than, huyện Yên Mỹ: tổng cộng có 50 đạo sắc, do nhà vua ban cho Diệu Vận đại vương, Tả Hoàng hậu Thiện Tiên đại vương, Hữu Phi nhân Nội Trạch đại vương (trong đó: đời Vĩnh Tộ 03 đạo, Đức Long 07 đạo, Dương Hòa 09 đạo, Thịnh Đức 02 đạo, Vĩnh Thọ 02 đạo, Cảnh Trị 03 đạo, Dương Đức 03 đạo, Chính Hòa 03 đạo, Vĩnh Thịnh 03 đạo, Vĩnh Khánh 03 đạo, Cảnh Hưng 09 đạo, Chiêu Thống 03 đạo); xã Đại Hạnh, tổng Hòa Bình, huyện Yên Mỹ có 43 đạo sắc phong; tiếp đến là xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm có 41 đạo. Niên hiệu Cảnh Hưng, đời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) phong sắc nhiều nhất, hầu như làng xã nào của Hưng Yên cũng có sắc phong, trong đó xã Lạc Đạo có 21 lần được vua Cảnh Hưng ban đạo sắc thần.
2- Thần tích: Là những bộ sưu tập về sự tích các thần được thờ ở thôn, xã (từ Nghệ An trở ra Bắc) mà phần lớn đã được triều đình cho người biên chép, chỉnh lý và lưu trữ bản gốc tại bộ Lễ dưới hình thức chung là Ngọc phả. Mỗi bản thần tích được biên soạn theo một mẫu chung: Gốc các vị thần (đời vua, cha mẹ, quê quán), công lao của thần lúc sống cũng như khi mất (cứu dân, cứu nước, hiển linh,…), các danh hiệu được phong tặng, nơi thờ tự… Những vị thần sớm nhất được thờ tự ở Hưng Yên là từ thuở Hùng Vương dựng nước và muộn nhất là thời Nguyễn. Những vị thần, có thể là nhiên thần: tục thờ Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện ở Văn Lâm và Yên Mỹ), thờ Thạch Quang Vương Phật (hòn Đá phát sáng)…; thiên thần (Tiên Thiên, Địa Tiên, Ngũ Lão Tiên Ông, Đế Thích, Ngọc Hoàng…); có thể là các nhân thần như: (Chử Đồng Tử - Nhị vị phu nhân, Lạc Long Quân - Âu Cơ…), (Phạm Ngũ Lão, Phạm Bạch Hổ, Đoàn Thượng…). Hưng Yên còn có những người nước ngoài, được thờ cúng tôn sùng như bà Dương Quý Phi - Dương Thái Hậu (đền Mẫu), thần Hàng hải Lâm Tức Mặc - Thượng Thiên Thánh Mẫu (đền Thiên Hậu), hay Quan Công (đền Võ Miếu)… (gắn bó với người Hoa sinh sống và buôn bán ở Phố Hiến thế kỷ XVI - XVIII). Hiện tại, Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu trữ 189 bản thần tích của Hưng Yên, cụ thể:
- Ân Thi : 18 bản
- Phù Cừ : 11 bản
- Văn Giang : 03 bản
- Kim Động : 20 bản
- Đông Yên : 29 bản
- Văn Lâm : 47 bản.
- Yên Mỹ có nhiều nhất với 61 bản.
Thần tích cổ nhất của Hưng Yên được biết đến là:
- Xã Đào Xá, huyện Kim Động, do Lê Văn Bích soạn năm Hồng Đức thứ nhất (1470), chép về sự tích ba vị thần thời nhà Đinh: Đôn Thiện Sùng Tín đại vương, Đông Chinh Thiên Môn đại vương và Tây Chính Địa Phủ đại vương.
- Thôn Long Vĩ, xã Đông Xá, tổng Tử Dương, huyện Yên Mỹ: do Lê Tung soạn năm 1470, gồm sự tích về Lý Hải triều nhà Lý, Phục Quý công Hiển Ứng đại vương (Nguyễn Văn Phục thời Lê). Đặc biệt, tại đây còn lưu trữ bản thần tích xã Đằng Man, huyện Kim Động do Hoàng Cao Khải soạn năm 1893, ghi chép về việc Thánh Mẫu đã có công báo mộng âm, phù giúp cho mình thoát hiểm. Đa số những bản thần tích khác đều do Hàn lâm viện, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn vào năm 1572 hoặc Quản giáp bách thần tri điện, Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền sao y lại vào những năm 1735 - 1736.
3- Tục lệ: Là những bản quy ước của làng xã, bao gồm: Lệ (lệ bạ, điều lệ, thông lệ, điểm lệ, giáp lệ, xóm lệ, hương lệ), tục lệ, khoán (cổ khoán, khoán bạ, khoán từ), khoán lệ, ước (ước từ, giao ước, hương ước), khoán ước… Mỗi bản khoán ước, tục lệ thường có các yếu tố như: các điều khoản phải thi hành, đối tượng thực hiện, ngày lập bản khoán ước…Viện nghiên cứu Hán Nôm mới chỉ thu thập và bảo quản tục lệ của hai huyện Văn Lâm và Yên Mỹ nhưng đã có tới 144 khoán ước, tục lệ, khoán lệ… khác nhau (Văn Lâm có 69 tục lệ, Yên Mỹ có 75 tục lệ). Quy ước cổ nhất của Hưng Yên được biết đến là của thôn Tử Cầu, xã Lạc Cầu, tổng Đồng Than, huyện Yên Mỹ lập năm Đức Nguyên nguyên niên (1674) và tục lệ xã An Xuyên, Ngọ Cầu, tổng Như Quỳnh, huyện Văn Lâm được soạn năm Chính Hòa thứ 5 (1684). Trong những bản tục lệ hay quy ước này chứa đựng rất nhiều thông tin lịch sử - văn hoá phục vụ công tác nghiên cứu, tìm hiểu về một địa phương. Ví dụ bản Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Liêu Xá tổng, Liêu Xá xã, Văn Xá - Vũ Xá nhị thôn tục lệ bao gồm các văn bản sau:
- Công nhị thôn Tư văn chính hội điều lệ bạ gồm 18 điều, sao ngày 6 tháng 3 năm Thành Thái thứ 3 (1891), có ghi chép tước hiệu, tên thụy, tên hiệu của các bậc tiên hiền hai thôn;
- Bản đình đệ niên nhập tịch ước thúc mục lục văn, gồm những bài văn tế dùng khi nhập tịch tại đình và các câu đối trong và ngoài nội điện; các lễ giỗ kỵ từng tháng trong năm;
- Bản đình chu niên tự sự các tiết tế văn tả bản, gồm các bài văn tế dùng vào các tiết trong năm tại đình;
- Văn Hảo nhị thôn trung hậu tộc phụng sự tiên hiền lệ bạ, gồm 12 điều, lập ngày 21 tháng Giêng năm Tự Đức thứ 26 (1873);
- Văn Xá thôn Đoài Nhất giáp tục lệ bạ bản, có 21 điều, không ghi ngày tháng lập;
- Văn Xá thôn Đông Nhất giáp tục lệ bạ, có 22 điều, lập ngày 4 tháng Giêng năm Tự Đức thứ 31 (1878) và 2 điều bổ sung vào ngày 16 tháng Giêng năm Tự Đức thứ 34 (1881);
- Công xã hương ước khoán điều lệ bạ, gồm 19 điều, lập ngày 15 tháng 12 năm Tự Đức thứ 23 (1870);
- Liêu Xá tổng Văn Hội điều bạ, gồm 27 điều, ghi danh các vị tiên hiền của bản tổng;
- Văn thôn Họa Tranh thị khoán lệ bạ, gồm 22 điều quy định của chợ Họa Tranh vào ngày 15 tháng 8 năm Tự Đức thứ 32 (1879);
- Bản tổng Văn Hội điều lệ sách bạ, có 9 điều, ghi một số bài phụ tế tại hội Tư văn;
- Văn Xá thôn Lê tộc điều lệ bạ, có 1 điều của dòng họ Lê, lập năm Tự Đức thứ 19 (1866), kê khai về số ruộng của họ này tại các xứ sở;
- Văn Xá thôn Đông Tam giáp điều lệ bạ, gồm 11 điều, lập năm Thành Thái thứ nhất (1889);
- Văn Xá thôn Xuân Áng tộc tự tiên hiền lệ bạ, gồm 12 điều, lập ngày 15 tháng 10 năm 1890, quy định về số ruộng, thể thức bài văn khấn và các vị tiên hiền của họ này phụng thờ;
- Văn Xá thôn hậu thần tự điển liệt bạ, gồm 7 điều (trích ở từ đường các dòng họ lớn) ghi danh sách các vị hậu thần được phối thờ tại đình;
- Công xã Hương lão hội lệ bạ, gồm 2 điều, lập năm Thành Thái thứ 18 (1906).
- Công xã hưu ban Tư văn hội lệ khoán bạ, có 17 điều, lập năm Khải Định thứ 2 (1918);
- Đông Nhị giáp điều lệ bạ, lập ngày 1 tháng 9 năm Khải Định thứ 4 (1919);
- Công xã cải lương tân lệ bạ, có 21 khoản, lập ngày 3 tháng 12 năm Khải Định thứ 4 (1919).
- Văn thôn tập thiện hội điều lệ bạ, gồm 3 điều…
Đây là nguồn tư liệu rất giá trị và phong phú, bổ sung cho sự thiếu hụt về tư liệu thành văn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về phong tục tập quán cũng như những sinh hoạt của nhân dân tại các làng xã trong tỉnh.
4- Địa bạ: Là bản kê khai về ruộng đất (địa tịch) của các xã, thôn được thực hiện một phần từ thời nhà Lê và phần lớn dưới thời Nguyễn, với mục đích làm căn cứ để thu thuế nông nghiệp. Mỗi bản kê khai thường cung cấp những thông tin như: Tổng số ruộng đất ở địa phương, số ruộng đất công, tư, ruộng thần từ phật tự, thổ trạch viên trì, tha ma gò đống, quan lộ, quan đê, ruộng học điền… Hiện tại, Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ địa bạ 3 xã; Đồng Xuyên, Mậu Duyệt (tổng Lương Tài), Thanh Khê (tổng Thái Lạc); hai thôn: Đông Nghệ, Xuân Lôi (xã Ngải Dương) của huyện Văn Lâm và 37 xã, 18 thôn của huyện Yên Mỹ. Theo thống kê sơ bộ, bản địa bạ sớm nhất của Hưng Yên được điều tra thời Gia Long thứ 4 (1805); xã có diện tích nhiều nhất là Hoàng Đôi (tổng Đồng Than, huyện Yên Mỹ): 965 mẫu (chia làm 3 hạng ruộng, 3 hạng đất) và xã Đồng Than (tổng Đồng Than): 843 mẫu. Ngoài ra, một số địa bạ còn có bản đồ minh họa, tờ bẩm về tình hình ruộng đất…
5- Cổ chỉ: Là một tập hợp những sách vở, giấy tờ được viết bằng lối chữ cổ (chữ Hán hoặc Nôm, để phân biệt với lối chữ mới, tức chữ cái Latinh) bao gồm: công văn, tài liệu các loại như lệnh chỉ, thượng, dụ, khải tấu, đinh bạ, điền bạ, thuế khóa, gia phả, sách mo, các khoa cúng, bí quyết tu hành của nhà Phật…, sưu tầm được tại một số xã thuộc 5 tỉnh: Hưng Yên, Ninh Bình, Sơn Tây, Lạng Sơn và Phúc Yên. Đối với Hưng Yên, ba tổng còn tài liệu cổ chỉ là Liêu Xá, Yên Phú và Đồng Than của huyện Yên Mỹ. Bản Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Liêu Xá tổng, Liêu Trung xã cổ tự chỉ, ghi chép về:
+ Doãn Thị thực lục, ghi chép về dòng họ Doãn, một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt, làm quan như Thượng thư bộ Lễ Doãn Thành Huệ và Doãn Mậu Khôi, Doãn Tư…
+ Lưu gia phát tích phả thuyết, ghi chép về dòng họ Lưu như Lưu Đình Tá và một số người khác được phong thờ tự…
+ Nguyễn tộc nguyên lưu phả hệ lược thuyết, có liệt kê tên, hiệu, quan tước, ngày kỵ húy, giỗ chạp… của họ Nguyễn.
+ Lịch đại thiền sư phù luyện bí quyết, do nhà sư trụ trì chùa Liêu Trung là Pháp Chiếu soạn năm Gia Long thứ 6 (1807).
+ Bản quốc Thiền tông lịch đại tổ sư điển tích ký lục, do sư Pháp Định soạn năm Tự Đức thứ 13 (1860), ghi chép về tên tuổi, quê quán và sự tích của 9 vị tổ sư, từ đệ nhất đến đệ cửu, của bản chùa.
Ngoài ra, còn nhiều bài văn bia, như: Trùng tu Pháp Vân tự bi ký (soạn năm Chính Hòa thứ 16 - 1695), Phụng biên bản tộc Lệ Trung hầu tướng công bảo hậu Phật chi văn (soạn năm Cảnh Hưng thứ 17 - 1756), Bản xã tôn trí hậu thần ước văn...
- Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn, có:
+ Lê hoàng ngọc phả do chính vua Lê Hiển Tông ngự chế vào năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780), ghi chép về 27 vị hoàng đế, 25 vị Hoàng Thái hậu của Hoàng tộc nhà Lê.
+ Đoàn thị thực lục ghi chép về gia phả họ Đoàn, di văn của Hồng Hà nữ sĩ - tức Đoàn Thị Điểm (câu đối, tế văn, trướng văn, thi văn…), Hồng Hà phu nhân nghiêm phụ thần đạo bi ký… Ngoài ra, còn có những sách như: Thắng minh tự ngoại tu luyện diện quyết, Lão tẩu dã đàm ca, Thơ chiêm nghiệm…
6- Xã chí: là những bản điều tra về địa chí của một số làng, xã, thôn trong tỉnh do Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội tổ chức. Đây là tư liệu ghi bằng chữ Quốc ngữ, chữ Pháp nên rất tiện cho việc tra cứu. Nội dung của những bản điều tra tập trung vào 11 mục chính: bia, thần sắc, thần tích, cổ chỉ, tục lệ, đình chùa, tượng và đồ thờ, lễ hội, cổ tích, địa đồ, công nghệ và thổ sản. Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang lưu trữ Xã chí của hai huyện là Phù Cừ và Tiên Lữ.
- Huyện Phù Cừ: gồm 52 xã của 6 tổng (Ba Đông, Cát Dương, Kim Phương, Võng Phan, Hoàng Tranh, Viên Quang), điều tra năm 1942.
- Huyện Tiên Lữ: gồm 32 xã của 5 tổng (Hải Yến, Tiên Phương, Tiên Châu, Phương Trà, Canh Hoạch), điều tra năm 1943 - 1944.
Qua những thống kê trên, chúng tôi nhận thấy:
- Đây là một nguồn di sản văn hóa thành văn rất có giá trị. Những tư liệu hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là tài liệu quý giúp ích chúng ta rất nhiều trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về Hưng Yên nói riêng, về các địa phương khác trong cả nước nói chung. Chính vì thế, chúng ta phải tiếp cận nguồn tư liệu này.
- Các cơ quan chức năng cần tạo điều kiện, cả tiền của lẫn công sức, để sao chép, chụp, dịch thuật nguồn tư liệu trên nhằm lưu trữ tại Thư viện tỉnh, phục vụ cho công tác nghiên cứu, thu thập thông tin, nâng cao hiểu biết về quê hương và nhiều vấn đề trong lịch sử của từng địa phương.