9. Những tư liệu Hán Nôm ở đền Tam Trung về 3 vị trung thần tuẫn tiết triều Nguyễn (TBHN 2008)
NHỮNG TƯ LIỆU HÁN NÔM Ở ĐỀN TAM TRUNG VỀ
3 VỊ TRUNG THẦN TUẪN TIẾT TRIỀU NGUYỄN
LÊ QUANG CHẮN
Viện Sử học
"Vì nước có người lưu đại nghĩa
Lập đền riêng Đế xót cô trung
Ba sinh danh chẳng đề năm tháng
Một chết theo về với núi sông.
Cuồn cuộn giữa dòng cùng nước chảy
Hiu hiu muôn thuở gió mênh mông
Vân Trường hiển miếu là hàng xóm
Trung hiếu xưa nay Nam Bắc cùng"(7).
Tiến sĩ Vũ Tông Phan, Tiến sĩ Lê Văn Trung, Phó bảng Nguyễn Văn Siêu; Cử nhân Dương Bá Cung, Nguyễn Đình Dao, Đào Đình Bảo khi đến Cao Bằng đã cùng làm bài văn viếng với những lời lẽ kính trọng: "Than ôi! Chết vẫn không khó. Song chết mà như ông, cũng là một cái chết đủ để trong lòng người. Người sinh ở đời, trời đất đúc mà thông minh, mang học vấn Thánh hiền, cho nên đứng thẳng lên mà tự lập. Cùng với thiên hạ cùng ban ơn cho, để xứng đáng gặp tốt lành. Không may mà gặp nguy nan, còn lấy trung nghĩa cảm kích lòng người...". Nhiều vị quan đồng liêu cũng có những cảm nhận rất sâu sắc về tấm gương tiết liệt của 3 vị trung thần. Những bài văn viếng của họ(8) đều coi sự tuẫn tiết đó rất hiển hách và rực rỡ, "trên thì triều đình bao khen, tặng thưởng, để khen trung thần nghĩa sĩ muôn đời; dưới là các quan khanh, đại phu giữ vững lòng thương xót bậc kiên trung, năm sáu bạn bè tri kỷ, hoặc viết văn để viếng, hoặc làm thơ để khóc, bởi thế mà định công bàn luận rõ ràng vậy".
Những bài thơ viếng lại tỏ ra rất bi ai nhưng cũng đầy âm hưởng hùng tráng. Quan Biện lý bộ Binh, Hoàng giáp khoa Nhâm Thìn Phạm Đôn Nhân đã viếng thơ rằng:
"Lâm nguy thắng đại tiết
Giỏi thay Phạm Bạt Khanh
Bình sinh nuôi khí tiết
Mọi vật không tranh giành
Sống mười năm uất kiết
Theo đạo được an vui
Một ngày đội ơn biết
Xe đưa ra biên thành
Người người thấy đều mừng
Riêng người không khác xưa
Thật là nuôi chí lớn
Dáng xưa không đầy vơi
Một buổi sớm phát ra
Hiên ngang lấp mênh mông
Tuyên Quang đánh thù lấn
Bọn giặc đến Cao Bằng
Cô thành viện đã cắt
Một tay không chống nổi
Báo quốc thề xin chết
Thân thể giống như còn
Quỷ thần kêu la khóc
Núi non phải phất thiêng
Rực rỡ Bùi sứ quân
Hơn hớn Phạm Lãnh binh
Cùng mất ba bậc nhân
Chỉ ngươi lên tiếng trước
Đại tiết không tối tăm
Cuộc đời suốt tỏ sáng.
Xe loan cho sáng ngời
Đền miếu đứng loanh quanh
Tạo hóa cho ngươi phúc
Ta sao đâu kêu được
Mọi người không thể thấy
Bồi hồi lạnh lòng thương".
Hà Tôn Quyền rất "thương sự khẳng khái" của quan Án Phạm Đình Trạc, nên đã làm thơ viếng "để tỏ lòng kính phục" bằng năm bài thơ, trong đó Bài 1 có nội dung:
"Lẫm liệt chết như sống.
Anh hùng thay Bạt Khanh
Thư sinh sao trang liệt
Nhà vua chưa biết danh
Đánh giữ không có chỗ
Sống chết quyết cùng thành
Thương thay nghe tin muộn
Sự việc mới rõ rành".
Tiến sĩ họ Nguyễn ở Đông Tác (tức Nguyễn Văn Lý) làm thêm bài thơ viếng:
Tên mưa trong thành thế tựa mộng
Thong dong hạ bút đối quân thân
Anh hùng hào kiệt nhẹ sống chết
Từ đó non sông quỷ khóc thần.
Gươm sáng lóe sâu và trăng nước
Trống vang xa thẳm tận đầu mây.
Nghìn năm công luận ghi thanh sử
Ai giữ cõi bờ đệ nhất nhân".
Nhiều người lại tôn kính viếng bằng những đôi câu đối ca ngợi sự trung tiết và hiếu đễ của 3 vị trung thần Bắc - Trung - Nam. Tiến sĩ Bùi Ngọc Quảng viếng:
"Tuyệt bút một chương trung và hiếu
Đối đầu tam liệt chết như còn".
Hoàng giáp khoa Nhâm Thìn Phạm Đôn Nhân lại nhận thấy:
"Hiếu là hiển danh cha mẹ, song thọ cửa nhờ biết có con
Chết mà rèn tiết sĩ phu, Tam Trung đền miếu vẫn như còn".
Đốc học tỉnh Quảng Yên Đặng Văn Toàn khi đến thăm đền Tam Trung cũng ngậm ngùi:
"Đền nước thân này trung là hiếu
Danh cao muôn thuở chết như còn".
Văn hội tổng Liêu Xá của Phạm Đình Trạc cũng đến đền viếng thăm và tự hào về vị danh nhân tử tiết của quê hương mình:
“Bờ ải dựng cương thường, cung kiếm cuộc tàn thương da ngựa
Hồn mây để quyến mộ khói sương trống dứt tiếng vượn sầu.”
Ngoài ra, còn có những câu đối viếng của Hội nguyên khoa Nhâm Thìn Đỗ Huy Cát, Tiến sĩ Lê Văn Trung, Tuần phủ Quảng Yên Vũ Hồng, Huấn đạo huyện Đường Hào Nguyễn Khắc Thận, Quản cơ cơ Tả kiên (tỉnh Quảng Yên) Lê Văn Triệu, Cử nhân Vũ Trấn, Tú tài Nguyễn Di Duật (Hội Tư văn tổng Liêu Xá), anh họ là Hoa Tác thiện phủ... và hơn chục câu đối không đề tên người viếng.
Sự tuẫn tiết của Bố chính sứ Bùi Tăng Huy, Án sát sứ Phạm Đình Trạc và Lãnh binh tỉnh Lạng Sơn Phạm Văn Lưu đã để lại sự tiếc thương vô hạn đối với gia đình, con cháu. Trong số 3 người trên, chỉ có Phạm Đình Trạc là đem theo gia quyến sinh sống ở Cao Bằng, cho nên, sau khi sự biến xảy ra, gia quyến đã đem thi hài của ông về quê hương bản quán để an táng. Trong lễ thành phục, thân phụ Phạm Đình Trạc đã khóc con rằng: "Than ôi! Hài cốt người tàn về khí. Con vâng mệnh làm Án sát tỉnh Cao Bằng, giặc đến không thể giữ trọn vẹn thành, cùng với quan hạt này cùng tử tiết. Ta và mẹ con ngày đêm trông về phía Bắc. Ngậm nước mắt mà không dám đến viếng thương. May quân nhà vua thu hồi đất cũ, vợ con con mang hài cốt về táng ở quê nhà. Trách nhiệm của con cũng giảm bớt, mà sự thương xót của ta cũng được bày tỏ ra vậy. Ở dưới đất con được thấy các bậc Tiên công, mà khỏi trái sự dạy dỗ của ta vậy". Con trưởng là Phạm Đình Nghị cũng làm bài văn tế thành phục cha (do Giáo thụ phủ Tiên Hưng Nguyễn Đình Giao thay chép) với những lời lẽ thật thống thiết: "Than ôi! Cha xuất thân khoa mục, gặp thời thịnh sáng, trải qua làm quan bổ nhiệm là Lang trung ra lĩnh Niết ty ở Cao Bằng. Chưa được 8 tháng thì bọn thổ phỉ quấy động, từ đó không được tin tức cha... Từ khi có công luận, lũ các con còn làm gì được nữa. Chỉ còn có đau xót mà thôi! Ông nội, bà nội tuổi cao, lũ con còn thơ ngây kham sao được tám năm như thế dằng dặc trông con ngoài nghìn dặm... Không phải sống chết mà có hai đường thể hiện. Nhà cũ ở thành Nam nên khi cha còn sống, cùng họp lại một nơi, nhờ ông nội, bà nội ta, gọi hồn về đây".
Đặc biệt, đền Tam Trung có nhiều bia ký ghi lại sự kiện xảy ra vào ngày mồng 5 tháng 10 năm Quý Tỵ (1833) ở tỉnh thành Cao Bằng.
Tấm bia ký do quan Án sát sứ tỉnh Cao Bằng Bùi Quốc Trinh soạn đã nêu rõ: "Trong trời đất không gì lớn bằng cương thường(10). Sĩ phu lấy thân làm trọng, há không quý vậy sao? Thật cũng là khó vậy. Bài ca chính khí không làm, trong khi mở đường cô trung khuyên nết tinh vi, mới thấy được một, hai. Chưa có khi nào cùng một lúc tuẫn tiết(11) đến ba người. Há chẳng phải quý vậy thay. Ba người là ai? Một người là họ Bùi, hai người là họ Phạm.
Minh Mệnh thứ 14 năm Quý Tỵ (1833), Án sát Phạm đại phu đến tuẫn tiết nơi đất này. Đại phu là bậc khoa mục, tuy làm việc ở đây còn ít, mà thành tích khai triển đã được đúc kết. Tháng 8 năm ấy, nghịch Vân gây biến từ Bảo Lạc, ty man chạy theo. Thành đất dài biên giới, sức không chống được. Tháng 9 giặc vây chặt thành, 2 đại phu cứ đóng trong thành, làm thế thủ. Khi có Lãnh binh tỉnh Lạng (Sơn) là Phạm tướng quân đến cùng giữ thành, chống chọi một tháng, tính toán muôn phương nghìn kế. Hiệp đồng với Trương Hứa, Thu Dương, thành bền vững nhưng bị cô lập. Người không nhiều mà sợ muối hết, gạo hết, quân cứu viện không có, thế cùng, bèn cùng nói với nhau rằng: Kiệt sức rồi! Việc hỏng thôi! đã không giữ được đất của nhà vua, thì nên chết! Vì việc vua, Án sát họ Phạm hoàn danh tiết trước, Bố chánh họ Bùi, Lãnh binh họ Phạm cũng nối tiếp bỏ mình. Thật lạ vậy, ba người đều cùng một lòng. Ôi! người há rất vui thay. Ôi! cũng là hết chức phận mình mà thôi! Lúc này là mùng 5 tháng 10, hơn một tháng thì lấy lại được thành. Tổng thống đại thần(12) nghe việc tâu lên: Hoàng đế phán rằng: Ôi trung lớn lắm! Ba bậc bầy tôi, trẫm khen là tốt, không nêu việc tốt lên, làm sao để khuyên được mọi người. Viết tờ đặc chỉ, chuẩn ban cho tỉnh đường, dân phố dựng đền ở đất này, gọi là Đền Tam Trung (3 trung thần). Than ôi! Ba vị bầy tôi trung đã chết. Núi Sầm nêu rực rỡ, sông Hiến chôn dòng anh linh, trăm nghìn năm, hiên ngang như sống. Ta vẫn biết đây là đền Tam Trung. Nên cùng Song Trung ở Bình Định đều mãi mãi không mất. Nếu không đợi nói: Nghĩ đến Tam Trung phải giữ, là việc khó cho người quân tử không chỉ để hoàn danh tiết cho bản thân, mà cũng là để dựng cương thường cho muôn thuở. Một chút riêng hâm mộ, không phải tự mình, cho nên dựng đền uy nghi là để ghi nhớ vậy. Lại còn làm bài văn khúc hát, để trăm năm trở về sau, nghe mà hứng cảm. Tại người sao? mà phải có ở bài viết và bài thơ vậy. Thế thì ta không thể không biết.
Bài thứ nhất:
"Từ xưa sống chết đều là mộng
Mà nay danh tiết mấy Tam Trung
Cô thành dòng tháng chống cùng giặc
Miếu mới nghìn thu đột tới cùng
Khi sóng vươn cao đua Sầm lĩnh
Cả thiêng dài khắp gió Hiến xông
Hồng trần ngoái bước xem qua lại
Xưa nay tâm sự lẽ cùng chung".
Bài thứ hai:
"Cứu nước, do người gìn đại nghĩa
Dựng đền, vua giữ đức Tam Trung
Ba sinh vốn đã ghi ngày tháng
Một chết vẫn đương đối cửu trùng
Cuồn cuộn nửa sông cùng dòng nước
Dịu dàng nay, cũ vẫn mát chung
Mây dài quanh miếu vùng biên giới
Chính khí sáng soi Nam Bắc cùng".
Bài thứ ba:
"Tất được thân này cho tạo vật
Rất khó thời bình rõ tiếng trung
Đầu Trời, chân Đất, cương thường nặng
Lá móc, hoa sương tính mệnh cùng
Khí đúc núi sông thu không tản
Tâm cùng sắt đá sống thác chung
Kính nhờ Cô miếu cùng sông bến
Chẳng thẹn dòng dài tiếng chuyển rung".
Còn Bài ký đền Tam Trung ở Cao Bằng do nguyên Giáo thụ phủ Trùng Khánh cùng với Tri châu châu Ôn (Lạng Sơn) là Nguyễn Trọng Lâm kính ghi vào ngày mùng 10 tháng 2 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 11 (1858) cho biết: "Nguyên quan Bố chánh sứ là Bùi Công, quan Án sát sứ là Phạm Công, quan Lãnh binh tỉnh Lạng Sơn là Phạm Công, là 3 vị trung thần vậy. Triều vua Minh Mệnh thứ 14 (1833), giặc vây hãm thành, 3 ông đều chết. Đó là ngày mùng 5 tháng 10. Sự việc tâu lên: Thánh Tổ Nhân hoàng đế (Minh Mệnh) khen là chí khí, sai lập đền thờ, hàng năm mùa Xuân nhà vua cho tế một lần ở nơi đất ông làm quan ở. Trời đất cảm động, tưởng nhớ. Mỗi năm đến ngày kỵ, đủ lợn đến tế, hàng năm lấy làm thường lệ. Đến tháng trọng Xuân Đinh Tỵ năm Tự Đức thứ 10 (1857), nguyên quan Bố chánh sứ nay làm Tuần phủ Lạng Sơn, Cao Bằng(12); Đông doanh Thụy Trai là Bùi Công, nguyên Án sát sứ, nay là Thái bộc tự khanh, lĩnh chức Bố chánh sứ(13); Nam phố Vũ Công, quan Phó Lãnh binh Cổ Lũy Nguyễn Công, cùng bàn với nhau rằng: Không có tư điền việc tế tự, không thể lâu dài được. Bèn họp các quan võ, chi lương của mình ra mua 2 mẫu đất ở xứ Đồng Có, xã Gia Cung, để làm nơi kỵ lễ thường niên. Tháng bảy mùa thu, quan Viên ngoại lang, lĩnh Án sát sứ Thượng Mão là Nguyễn Công đến nơi làm việc nghĩa. Để nơi thờ cúng được rộng rãi, bèn tập hợp lương bổng của từng nhà, mua lúa để làm lễ tế tự hàng năm. Mua thêm nơi đây một mẫu đất nữa thành 3 mẫu cùng liền nhau. Cho người xã lĩnh canh, hàng năm thu tiền 50 quan, để đủ các lễ Nguyên đán, Đoan dương, Trừ tịch và ngày kỵ, giao cho Thành úy viên nhận biện mà giao cho ta ghi lại.
Ôi! Danh tiết ba bậc trung, sáng tỏ như mặt trời, sao đợi ta phải nhiều lời khen ngợi. Chỉ đền có đất thờ, là việc nghĩa vụt lên. Có xây dựng là phải từ đầu thì việc làm nên là mãi mãi. Cho nên phong tục và lòng người cũng thật là hậu vậy. Cho nên khắc vào đá, để giữ lại sự thực vậy".
Ngoài ra, tại đền Tam Trung còn có một tấm bia ghi chép về sự việc Phạm công (tức Phạm Đình Trạc) chết vì đại nghĩa, do các sĩ phu khi đó nghiên cứu, tập hợp: "Bi là thương xót. Thương ở tâm mà ghi ở đá để nhớ sự việc. Triều vua Minh Mệnh thứ 14 (1833), giặc vây tỉnh Cao Bằng. Đấng tiên sinh chết. Sĩ phu thuật lại việc rằng: Tiết nghĩa thay Phạm Bạt Khanh, húy Đĩnh Trạc, người Liêu Xuyên, Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Là dòng dõi quan Thái tể Phạm Công Trứ triều Lê. Minh Mệnh thứ 2 khoa Tân Tỵ (1821), đậu Hương tiến. Buổi đầu làm Hành tẩu bộ Lễ. Chức quan huyện Chi Mỹ khuyết, bầu ông, ông không nhận. Cũng có đôi chút khí khái, sau trao chức Tri huyện Hà Đông, Chủ sự bộ Lễ, Viên ngoại lang, rồi chuyển Lang trung bộ Lại, 13 năm. Ngày tháng 12 điều bổ làm Án sát sứ tỉnh Cao Bằng. Năm thứ 14, ngày tháng 8, thổ phỉ Tuyên Quang là Nông Văn Vân, nhân sự biến động của nghịch Ngỗi, trộm đóng ở Bảo Lạc, kéo dài đến Tuyên Quang, Thái Nguyên. Ba mặt biên giới đại náo. Đảng chúng là Nguyễn Hữu Huyền, Nguyễn Tá Cận hưởng ứng cùng đánh bức hiếp tỉnh thành, thế rất điên cuồng, càn rỡ. Tỉnh chỉ có một cơ Cao hùng dân Thổ, cùng với bọn Cận đã lâu, cho nên đánh không nổi. Tháng này quan Tuần phủ Lạng Sơn, Cao Bằng là Hoàng Văn Quyền ủy quyền cho Lãnh binh Phạm Văn Lưu, đem binh lại cứu viện, cố sức ra đánh. Văn Lưu bị nạn. Mong lời giúp giữ, ông và quan Bố chánh Bùi Tăng Huy xuất chiến, quân ít không địch nổi, lui vào thành bàn kế chống giữ để chờ viện binh. Ngày mùng 2 tháng 9, giặc đưa quân đến vây thành. Trong thành không có gì, muốn tan, bèn dời cứ điểm, đưa kho vựa lên thành bàn kế giữ. Kho hiểm trở mà hẹp, chọn được hơn 30 người nghĩa dũng, hết sức chuyển chiến, hơn một tháng giữ đồn như cũ. Tiếp đó đạn dược, muối ăn mới hết, quan quân nhiễm bệnh, chạy trốn quá nửa. Ngày 3 tháng 10, ngụy Vân tề tập các đường, tự đến đốc chiến, bắt ép đắp bốn mặt thành núi đất, bắn liên tiếp, cây lá tơi bời, thế rất nguy cấp. Đến nửa đêm, nghe tiếng chiêng, voi, trong đồn vừa sợ vừa mừng. Sáng sớm thấy Hoàng Văn Quyền bị giặc bắt trói ở trên bành voi. Có lệnh dụ mau ra hàng, trong đồn náo động hoảng loạn. Ông biết việc không thể làm được, nói với Bùi công rằng: Tháng trước nghe Tổng thống Tạ Quang Cự, đánh giải vây Lạng Sơn. Tại sao viện binh không đến. Kế nay chỉ còn có tự tận, để trọn vẹn mệnh sống của quân dân mà thôi! Ông từ biệt về, sai đào huyệt đầu phía Đông, sắp sẵn ván, chỉ tay xuống đầm sâu nói rằng: Vợ con ta ở trong thành, mau tự chết, khỏi bị tay giặc làm nhục. Vợ con lui ra khóc rằng: Ở nhà hai cha mẹ còn sống, may chưa chết, thay ông để nuôi sống. Ông khóc đầm đìa và nói rằng: Trời thật là theo nguyện vọng của người. Nhân làm bài phú thi: Xuất thân năm Tân Tỵ, năm Quý Tỵ chết. Nhà vua và cha mẹ thấy việc chết này, trước sau gồm một kỷ nguyên, mong bày tôi thờ vua, nói là trung thì chưa mong, còn thờ cha mẹ thì mong mừng thọ. Cách nhau đường nghìn dặm, vợ dại con thơ. 33 ngày sức thần không còn nữa, không thể giữ được. Đất nhà vua, xin chết vì việc nhà vua. Xa tít cửa khuyết, sân triều, mây lơ lửng, nghĩ thương tình con vậy. Con lạy thưa: Dưới án nghiêm từ, xuống cho trăm phúc thọ khang. Con nhờ di thể cha mẹ, mới có thân này, mới có ngày nay, bó tay 39 năm, tụ họp ít, ly biệt nhiều. Chưa có một ngày nuôi để đền ơn hiếu kính. Tội của con thật là đáng chết. Ngửa nhờ. Thiên tử ban ơn, trật đến Tứ phẩm, quan đủ phương diện. Thật là phúc đức không gì sánh được.
Vậy nên, vì triều đình giữ đất, lại không chết được vì việc nước thì còn mặt mũi nào trông thấy các bậc sĩ phu trong thiên hạ. Cho nên chỉ còn có chết để trọn đạo làm bề tôi. Vợ dại con thơ, xin soi xét. Con tuy ngày đã chết, cũng như năm còn sống, đau từng khúc ruột, bút không tả hết. Chỉ muôn nghìn giữ gìn quý trọng, để đưa tuổi xa. Con khóc ra máu, lạy trình".
3 - Những bài văn tế, văn viếng, bài thơ, câu đối, bia ký... ở đền Tam Trung là những tài liệu rất quý giá của tỉnh Cao Bằng nói riêng, của nước ta nói chung. Nghiên cứu, tìm hiểu về đền Tam Trung, chúng ta không những đánh giá đúng và xác thực về thân thế, sự nghiệp của 3 nhân vật lịch sử triều đại nhà Nguyễn, mà còn tưởng nhớ và truy tôn đến 3 vị trung thần tuẫn tiết ở 3 miền Bắc - Trung - Nam, đó chính là quan Bố chính sứ, Án sát sứ Cao Bằng Bùi Tăng Huy, Phạm Đình Trạc và Lãnh binh Lạng Sơn Phạm Văn Lưu./.
Chú thích:
(7) Dẫn theo Hoàng Thị Mai Hương: "Phạm Bạt Khanh - Người gương tiết liệt" trên Thông báo Hán Nôm học năm 2000, tr.185-193.
(13) Tức Bùi Cái, vì tháng 5 (nhuận) năm Bính Tý (1857) cho Thự Bố chính Cao Bằng là Bùi Cái đổi Thự Bố chính Lạng Sơn, lĩnh Tuần phủ Lạng - Bằng.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.114-128