9. Tìm hiểu về thành ngữ Nhật bốn chữ Hán (TBHNH 2004)
TÌM HIỂU VỀ THÀNH NGỮ NHẬT BỐN CHỮ HÁN
NGUYỄN TÔ CHUNG
Trường Đại học Ngoại ngữ
1. Giới thiệu về thành ngữ Nhật
Nhật Bản có một kho tàng thành ngữ (成語Seigo) phong phú. Qua kho tàng thành ngữ Nhật, người nước ngoài có thể hiểu được về văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán của đất nước và con người Nhật Bản.
Trước hết, thành ngữ là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ dân tộc. Nó được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày, trong trao đổi thư từ, trong diễn ngôn, trong sách báo với cách biểu đạt phong phú, giàu hình ảnh, hàm súc, mang ý nghĩa khái quát cao. Có thể hiểu được cách đối nhân xử thế, cách tri nhận về thiên nhiên, về xã hội, về cách nuôi dạy con cái, cách chăm lo cho gia đình… của người Nhật qua sự nhận xét, bình giá bằng thành ngữ.
Việt Nam và Nhật Bản là hai nước đồng văn trong một thời gian dài cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc nên kho tàng từ vựng tiếng Việt và tiếng Nhật Bản được bổ sung một khối lượng đáng kể từ những từ ngữ gốc Hán. Trong tiếng Nhật những từ gốc Hán đó bao gồm cả các thành ngữ.
Việc nghiên cứu thành ngữ (Seigo) trong tiếng Nhật đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật Bản nghiên cứu từ lâu và có hệ thống với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Có thể kể một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: công trình Nghiên cứu thành ngữ gốc Hán, đặc biệt là về thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người của Yokoyama Tatsuji (1935), công trình nghiên cứu Thành ngữ tiếng Nhật của Shiraishi Daiji (1950), công trình nghiên cứu Thành ngữ quốc ngữ của Yokoyama Tatsuji (1953), Từ điển Kotowaza điển cố của Tozou Suzuki và Eitaro Hirota (1956), Từ điển Kotowaza bằng tranh, của YutakaYoshida (1983, 1984, 1985), Đại từ điển thành ngữ, của nhà xuất bản Shufu To Seikatsu, (1995)…
Việc nghiên cứu thành ngữ (Seigo) trong tiếng Nhật thường bao gồm cả việc nghiên cứu 諺Kotowaza, 慣用句Kanyouku, 漢字熟語Kanjiju kugo, 名言名句Meigenmeiku.
Kanyouku dịch sát nghĩa là quán dụng cú được hiểu là tổ hợp từ có cấu trúc chặt chẽ, biểu thị ý nghĩa đặc biệt và có tính thành ngữ cao đã được quen dùng trong giao tiếp nên có thể coi là thành ngữ [3; 185]. Để cho tiện, dưới đây chúng tôi dùng trực tiếp thuật ngữ kanyouku trong khi chưa tìm được thuật ngữ phù hợp trong tiếng Việt. Việc nghiên cứu Kanyouku trong tiếng Nhật được quan tâm trên hai phương diện chủ yếu: hình thức và ý nghĩa.
Về ý nghĩa kanyouku thường chia làm hai loại:
a/ Ý nghĩa của Kanyouku không liên quan trực tiếp tới nghĩa gốc của chúng, như:
(1-1) Kubiwokiru (Cắt cổ) Þ Sa thải / đuổi việc
b/ Ý nghĩa của Kanyouku mang ý nghĩa trừu tượng liên quan tới nghĩa gốc của chúng, như:
(1-2) Hara ga kuroi (Bụng đen) Þ Xấu bụng
Về hình thức kanyouku được phân ra các loại chủ yếu như:
a/ Kanyouku có vị thể từ làm trung tâm (động từ và tính từ).
b/ Kanyouku có danh từ làm trung tâm.
c/ Kanyouku có phó từ làm trung tâm.
Tuy nhiên, chỉ xét riêng ở Kanyouku có từ chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Nhật cũng khá phong phú, chiếm tỷ lệ khá cao trong thành ngữ Nhật (khoảng 32%) [13; 68], như:
(1-3) Atama ga ii (Đầu tốt) Þ Thông minh
(1-4) Kao ga hiroi (Mặt rộng) Þ Quan hệ rộng
Kotowaza (thành ngữ, tục ngữ) được định nghĩa là những lời giáo huấn, sự phê phán nhẹ nhàng từ xưa truyền lại [1], phần lớn do người Nhật tạo ra. Có thể coi Kotowaza là cuốn sách giáo khoa lớn với những kinh nghiệm cuộc sống quý giá được đúc kết từ đời này sang đời khác, được truyền từ người này sang người khác. Qua Kotowaza, người ta có thể hiểu về một nền văn hóa đa sắc diện, độc đáo vừa truyền thống và cũng rất hiện đại của đất nước và con người Nhật Bản đồng thời qua Kotowaza người ta cũng phần nào hiểu được hệ tư tưởng dân gian, về cách trị nước an dân, về những bài học kinh nghiệm, cách ứng xử bổ ích trong cuộc sống, những tri thức về tự nhiên… ở người Nhật Bản như:
(1-5) Uma wo ete muchi wo ushinau (Được ngựa mất roi) Þ Được cái này thì mất cái khác
(1-6) Oya ga oya nara ko mo ko (Cha mẹ thế nào con thế ấy) Þ Rau nào sâu ấy / Giỏ nhà ai quai nhà ấy.
(1-7) Kuchi tataki no te tarazu Þ Mồm miệng đỡ chân tay
Kanji jukugo là những thành ngữ về mặt văn tự được viết bằng chữ Hán, còn về mặt ngữ âm thì phát âm theo âm Hán-Nhật (Onyomi). Như vậy, tuyệt đại bộ phận Kanji jiukugo là thành ngữ gốc Hán, chỉ có một số rất ít Kanjijiukugo là do người bản ngữ tiếng Nhật tạo ra, chẳng hạn như:
(1-20) Juunin toiro (mười người mười vẻ)
Kanji jiukugo bao gồm nhiều loại như:
- Thành ngữ Nhật hai chữ Hán:
(1-21) Gyuuho (chậm như bò)
- Thành ngữ ba chữ Hán:
(1-22) Uchouten (ngây ngất vì sung sướng)
- Thành ngữ bốn chữ Hán, năm chữ Hán:
(1-23) Ichihimenitarou Þ Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng
Seigo là thành ngữ, thường được giới Nhật ngữ định nghĩa như sau: thành ngữ là những cụm từ được người xưa tạo ra, lâu ngày nói thành quen [1; 1174]. Như vậy thành ngữ trong tiếng Nhật được phân ra thành nhiều loại và phạm vi nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Nhật là rất rộng, đó là chưa nói đến việc nghiên cứu còn được thực hiện trên nhiều phương diện khác nhau như về cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa…
2. Về thành ngữ Nhật bốn chữ Hán
Thành ngữ Nhật gốc Hán chiếm một vị trí đáng kể trong hệ thống ngôn ngữ Nhật. Cho đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới vấn đề này. Tiêu biểu như nhà nghiên cứu tục ngữ, thành ngữ Yokoyama Tatsuji, Shiraishi Daiji, Tozou Suzuki, Eitaro Hirota, Koichi Kitamura…
Thành ngữ Nhật gốc Hán được phân loại khá cụ thể, chủ yếu được phân làm ba loại lớn như thành ngữ sử dụng trong diễn thuyết/ phát biểu (Speech), trong trao đổi thư từ (Tegami) và trong đời thường (Nichijouseikatsu).
Trong thành ngữ Nhật gốc Hán, thành ngữ có kết cấu bốn chữ Hán chiếm một tỉ lệ đáng kể. Phần lớn những thành ngữ có kết cấu bốn chữ Hán là thành ngữ gốc Hán, tiếng Nhật gọi là Yojijukugo - Tứ tự thục ngữ, tức là thành ngữ gồm bốn chữ Hán, nhưng về mặt âm tiết có thể nhiều hơn.
Theo Wada Takashi và Okudaira Takashi [12] tác giả bộ từ điển Yojijukugo - Tứ tự thục ngữ (tập 1: 1987, tập 2: 1991) thì số lượng thành ngữ Nhật bốn chữ Hán là 500 đơn vị. Đây là những thành ngữ chủ yếu là gốc Hán, nhưng bên cạnh đó có những thành ngữ Nhật bốn chữ Hán nhưng do người Nhật tạo ra, kiểu như:
(2-1) 一举兩得Ikkyoryoutoku (Nhất cử lưỡng đắc) Þ Nhất cử lưỡng tiện
Ví dụ (2-1) là thành ngữ gốc Hán được dùng để biểu thị ý nghĩa “làm một việc được lợi cả hai”, trong khi đó để diễn đạt ý nghĩa này người Nhật tạo ra một thành ngữ bốn chữ Hán khác nhưng không phải là gốc Hán:
(2-2) 一石二鳥Issekinichou - Nhất thạch nhị điểu đồng nghĩa với thành ngữ Nhất cử lưỡng đắc.
Một điều đáng chú ý ở đây là, cũng theo hai tác giả trên thành ngữ bốn chữ Hán trong Hán ngữ khi du nhập vào Nhật ngữ đã được người bản ngữ Nhật dựa vào cấu trúc bốn chữ Hán để tạo riêng cho mình những đơn vị thành ngữ mới. Ví dụ:
(2-4) 和魂漢才Wakonkansai (Hòa hồn Hán tài) Þ Tiếp thu tri thức của Trung Hoa nhưng không đánh mất đi bản sắc vốn có của Nhật Bản / Giữ gìn bản sắc dân tộc.
(2-5) 和魂 洋 才Wakonyousai (Hòa hồn dương tài) Þ Tiếp thu tri thức của phương Tây nhưng không đánh mất đi bản sắc vốn có của Nhật bản / Giữ gìn bản sắc dân tộc.
- Về mặt cấu trúc hình thức thành ngữ Nhật bốn chữ Hán có bốn loại sau đây:
1/ Thành ngữ đối kiểu Ax + Ay, Ax + By, Ax + Bx;
(2-6)無始無終Mushimushuu (Vô thủy vô chung) (Ax + Ay) Þ Không có đầu, không có cuối
(2-7) 一知半解Icchihankai (Nhất tri bán giải) (Ax + By) Þ Biết một chỉ hiểu một nửa
(2-8) 右往左往Uousaou (Hữu vãng tả vãng) (Ax + Bx) Þ Đi tới đi lui
2/ Thành ngữ có kết cấu dạng láy kiểu AA + BB, Ax + BB hoặc AA + By;
(2-9) 堂堂正正Doudouseisei (Đường đường chính chính) (AA + BB) Þ Ngay thẳng, đàng hoàng
(2-10) 前途洋洋Zentoyouyou (Tiền đồ dương dương) (Ax + BB) Þ Tương lai rộng mở / có nhiều khả năng
(2-11) 生生流轉 Seiseiruten (Sinh sinh lưu chuyển) (AA + By) Þ Vạn vật biến đổi không ngừng
3/ Thành ngữ có quan hệ chủ vị:
(2-12) 才色兼備Saishokukenbi (Tài sắc kiêm bị) Þ Tài sắc vẹn toàn
4/ Thành ngữ có quan hệ đẳng lập:
(2-13) 孝悌忠信Kouteichuushin (Hiếu đễ trung tín) Þ Nói về đạo đức của con người (hiếu, đễ, trung, tín)
- Về cấu trúc ngữ nghĩa, thành ngữ Nhật bốn chữ Hán có nghĩa thực tại về cơ bản được tạo nên bởi sự đối lập về nghĩa của hai vế.
Trong quá trình sử dụng thành ngữ gốc Hán người Nhật đã sáng tạo thêm những nét nghĩa mới vốn không có trong cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ gốc Hán khi được du nhập vào Nhật ngữ. Ví dụ: 青天白日Seitenhakujitsu (Thanh thiên bạch nhật) ngoài nét nghĩa “giữa ban ngày ban mặt” còn có nét nghĩa “được thanh minh, giải oan”; thành ngữ 千軍萬馬Sengunbanba (Thiên quân vạn mã) ngoài nét nghĩa “số lượng quân mã nhiều” còn được dùng với các nét nghĩa khác: nhiều cuộc chiến đấu ác liệt; giàu kinh nghiệm trong chiến đấu; giàu kinh nghiệm trong xã hội.
Việc sử dụng thành ngữ Nhật bốn chữ Hán không phải đơn giản. Đối tượng sử dụng ở đây phần lớn là những người có trình độ, địa vị xã hội nhất định hoặc những người trung niên.
Nghiên cứu và sử dụng thành ngữ như một phương tiện giao tiếp chính là tham gia vào quá trình giao lưu văn hóa của cộng đồng nói thứ ngôn ngữ đó. Qua việc nghiên cứu này ta có thể hiểu rõ hơn về văn hóa độc đáo vừa rất truyền thống vừa rất hiện đại của Nhật Bản mà ít nhiều ta còn hiểu thêm được cả những lối tư duy của người Hán. Nhưng sẽ không thể hiểu được rõ, đầy đủ ý nghĩa của thành ngữ nếu chỉ dựa vào ý nghĩa của cấu trúc - ngữ nghĩa bản thân nội tại của thành ngữ mà không xét đến yếu tố văn hóa, thói quen cuộc sống của người đã tiếp nhận và đang sử dụng nó.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ biên tập từ điển: Đại từ điển tiếng Nhật. Nxb. Kodansha, 1995. Japan.
2. Shufu To Seikatsu: Đại từ điển thành ngữ. Nxb. Shufu To Seikatsu, 1995. Japan.
3. KyokakenTokyoKokugobukai Gengokyoikusakurucho: Nội dung, phương pháp giảng dạy từ vựng. Nxb. Mugishopo, 1993. Tokyo.
4. Takashima Taiji: Tục ngữ, thành ngữ Nhật. Nxb. The Hokuseido Press, 1993. Tokyo.
5. Nghiêm Việt Hương - Nguyễn Tô Chung: Từ vựng tiếng Nhật. Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, 2001.
6. Yoshida Yutaka: Kotowaza bằng tranh (quyển 1, 2, 3, 4, 5). Nxb. Akaneshobo, 1983. Japan.
7. Suzuki Tozo, Eitaro Hirota: Kotowaza điển cố. Nxb. Tokyodo, 1956. Japan.
8. Yokoyama Tatsuji: Nghiên cứu thành ngữ gốc Hán, đặc biệt là về thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người, Nxb. Tsukubashoten, 1935. Japan.
9. Shiraishi Daiji: Thành ngữ tiếng Nhật, Nxb. Sanshoudou, 1950.
10. Yokoyama Tatsuji: Thành ngữ quốc ngữ. Nxb. Meijizusho, 1953
11. Yamamoto Kanta: Kanyoku và những vấn đề trong giảng dạy kanyoku. Nxb. Meijizusho. 1969
12. Wada Takeshi Okudaira Takashi: Thành ngữ bốn chữ Hán. Nxb. Iwaba Junia Shinsho, 1991.
13. Đỗ Hoàng Ngân: Một số nhận xét về thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Nhật, Ngôn ngữ, 2002. tr.68-74./.
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr. 62-69)